Lê Bình
Năm mới, California có tin mới. Tây
Ninh Đồng Hương Hội Bắc California
đã ra đời.
vùng bắc
Sau nhiều năm tháng chuẩn bị, kêu
gọi, họp bàn…mà chẳng đi tới đâu. Người Tây Ninh mỗi năm cứ phải chạy về nam để
chung vui với bà con Tây Ninh tại Nam CA…Sau khi ăn Tết xong, một số
người đã họp bàn, khuyến khích nhau và đi đến cuộc họp mặt để cùng xây dựng Hội
Đồng Hương Tây Ninh.

Khoảng 130 đồng hương Tây Ninh đã
họp mặt để thành lập Tây Ninh Đồng Hương Hội Bắc California . Buổi họp mặt bắt đầu với Lễ Chào
Quốc Kỳ khai mạc lúc 11:00am. Sau đó giới thiệu thành phần tham dự. Ban Tổ Chức
ghi nhận có sự hiện diện của Hội Quân Cảnh, Hội Cảnh sát Quốc Gia, Hiền tài
Nguyễn Thanh Liêm, Ông Mai Khuyên Khu Hội, Ban Trị Sự Tộc Đạo Cao Đài tại địa
phương cựu Chánh Trị Sự Mai Ngọc Tuyết, Chánh Trị Sự Đào Minh Ánh, Chánh Trị Sự
Nguyễn Văn Bé, Điện Thờ Phật Mẫu Hiền Huynh Nguyễn Văn Y và đồng hương đến từ
Sacramento, Oakland, San Francisco…v.v. Đặc biệt có sự tham dự của đại diện Tây
Ninh Đồng Hương Hội Nam California. Các cơ quan truyền thông báo chí có Ông Hoàng
Hoa Sài Gòn Film, Đài Truyền Hình Việt Today, nhà báo Phạm Lễ CM Magazine, phòng
viên Nghê Lữ, nhật báo Cali Today, Nàng Thế Kỷ, Báo Thằng Bờm, Báo Đời Mới…v.v.
Sau lễ chào cờ khai mạc, Ban Tổ
Chức ngỏ lời chào mừng đồng hương và quan khách. Trình bày mục đích của buổi họp
mặt. Sau đó một Chủ Tọa Đoàn đã được bầu lên gồm có: Ông Nguyễn Ngọc Dũ, Ông Trần
Minh Quan, Ông Trần Văn Sung, cô Trương thị Vân Lan, Ông Nguyễn Đăng Khích. Tiếp
theo là việc đề cử nhân sự vào Ban Chấp Hành. Có quý ông Trần Minh Khiết, Ông
Nguyễn Cười, Ông Duy Văn, Ông Nguyễn Thanh Hưng…và nhiều vị lão thành được đề cử,
nhưng vì bận rộn và tuổi cao sức yếu nhiều vị đã không thể đảm đương công việc.
Cuộc bầu phiếu diễn ra vui vẻ, thẳng thắn: Đồng hương tham dự bắt đầu cuộc bầu
cử theo lối phổ thông và trực tiếp. Sau nhiều lần trình bày, thảo luận, bầu phiếu,
đếm phiếu. Ban Tổ Chức đã chọn ra được một Ban Chấp Hành với thành phần như
sau:
Hội trưởng: Nha sĩ Trần Minh Khiết,
Phó Hội trưởng: Ông Nguyễn Thành Hưng, Ông Duy Văn, Cô Vân Lan, Tổng Thư Ký: Ông
Nguyễn Đăng Khích, và Thủ Quỹ: Nha sĩ Tô Mỹ Huệ. Ban Giám Sát: Nha sĩ Nguyễn Hữu
Tường và Ông Minh Đức Nguyễn Văn Phép.
Ban Tổ chức cũng đọc lên những lá
thư chào mừng của đồng hương, quan khách không thể đến dự: Lá thư của ông Trịnh
Quốc Thế từ Texas, lá thư của ông Từ Hiếu Côn, Gò Dầu, chủ hãng lịch Hương Quê,
lá thư của ông Chu Tấn, Hội Nhân Sĩ Diên Hồng đã đến và phục vụ tại Tây Ninh 6
lần…v.v. Những lá thư tràn đầy tình cảm thân yêu.
Chủ Tọa Đoàn hoàn tất nhiệm vụ, Tân
Hội Trưởng Trần Minh Khiết và thành phần nhân sự của ban Chấp Hành lên chào mừng
và trình diện đồng hương. Ông Trần Minh Khiết ngỏ lời chào mừng và nhận nhiệm vụ
đồng hương giao phó. Trong diễn từ chào mừng ông cho biết ông được tín nhiệm
giao cho trọng trách, nhưng từ bây lâu nay ông chỉ là một người yểm trợ các hoạt
động chưa bao giờ có kinh nghiệm làm việc cộng đồng. Xin bà con giúp đỡ và cùng
làm việc để mỗi ngày hội sẽ phát triển nhiều hơn. Ông cũng cho biết sẽ cố gắng
chu toàn trách nhiệm, sẽ cố gắng tổ chức nhiều cuộc họp mặt đồng hương để tình đồng
hương càng ngày càng nẫy nở hơn. Sẽ tham dự các sinh hoạt với các hội đoàn bạn
trong các công tác cộng đồng…v.v.
Sau cuộc bầu cử là phần tiệc mừng họp mặt và văn nghệ giúp
vui. Như bao nhiêu cuộc họp mặt của đồng hương, buổi họp mặt của Tây Ninh cũng
diễn ra vui vẻ, náo nhiệt và đằm thắm. Những ca khúc về vùng đất “nắng cháy da
người…” do người Tây Ninh sáng tác như: “ Tây Ninh Quê Mẹ” và “ Chuyến Xe Tây
Ninh” của nhạc sĩ Duy Văn và Đoàn Thi được ca sĩ Thùy Nga và Nghệ sĩ Phương Thu
hát lên trong ngày Xuân với nổi nhớ miên
man vô tận. Hòa cùng không khí ngày Xuân họp mặt sôi nổi, các đồng hương :Hoàng
Anh , Hoàng Lê , Minh Khiết , Chi Loan , Anh Hạnh, Nguyễn Cười, Chi Diễm, Chi
Huyền và các ca sĩ Trương Ngọc Mỹ, Thanh
Trúc và Duy Văn đã lần lượt trình bày những ca khúc : “ Tôi yêu” “ Mưa Chiều Kỹ
niệm”, “Mưa Rơi” “ Mùa Đông Của Anh” “ Lệ Đá” “ Trên 4 Vùng Chiến Thuật” “ Lá
Rụng Ven Sông” “ Nhớ Nhau Hoài” “ Nữa Đêm Ngoài Phố” “ Tình Yêu Thủy Thủ” và “
Người Tình Và Quê Hương” đã đem lại cho ngày họp mặt thêm sống động . Tiếng
hát của các anh chị đồng hương nghe như
không ngừng ở San Jose, hoặc thị xã Tây Ninh, nơi mà trước năm 1975 được xem là
thủ phủ của Tỉnh, mà những tiếng hát ấy giờ đã vang xa và luồng quyện vào Tha
La Xóm Đạo, những con đường rợp bóng tre, những vườn tầm vông đất Trảng Bàng…ruộng
lúa Thanh Điền nằm hiền hòa bên dòng Vàm Cỏ Đông…là những kỷ niệm khó quên. Lần đầu tiên họp mặt có nhiều xúc động kể sao
cho hết! Đồng hương cùng tỉnh, cùng quê, cùng trường nhưng chưa bao giờ gần gủi
để biết nhau. Ông Phạm Bằng Tường đã gặp ông Dương Quốc Dân trong xúc động. Ông
Dương Quốc Dân là học trò cũ của thân phụ ông Phạm Bằng Tường tại trường Lê Văn
Trung. Hai người gặp nhau với biết bao kỷ niệm. Họ kể lại cho nhau nghe những
chuyện đã xảy ra hơn nửa thế kỷ trước khi còn là học sinh trung học. Chuyện thầy
trò, chuyện học sinh, về ngôi trường cũ. Ông Trần Văn Sung sanh ra tại Tây
Ninh, sống và lớn lên ở Sài Gòn nghe nhắc đến những địa danh, những vùng đất ông
chưa đặt chân tới.
Có người bùi ngùi nói, thành lập
Tây Ninh Đồng Hương Hội sau bao nhiều năm sinh sống tại vùng nầy là việc quá trể,
nhưng trể còn hơn không. Hội sẽ là sợi dây nối kết tình làng nghĩa xóm, Cho cháu
con nhớ đến quê hương.
Buổi họp mặt kéo dài đến 3:00pm , sau lời cảm tạ của Ban Tổ Chức
mọi người quyến luyến chia tay.
Tưởng cũng nên biết thêm, Tây
Ninh là một tỉnh ở miền Đông Nam Phần, cách Sài Gòn khoảng 100 km theo đường
quốc lộ 1.
Vùng đất Tây Ninh từ thời xưa vốn
là một vùng đất thuộc Thủy Chân Lạp, tên là Romdum Ray, có nghĩa là
"Chuồng Voi" vì nơi đây chỉ có rừng rậm với muôn thú dữ như cọp, voi,
beo, rắn.... Những người dân ở đây sống rất thiếu thốn, cơ cực cho đến khi
người Việt đến khai hoang thì vùng đất này mới trở nên phát triển.Năm 1802, vua
Gia Long lên ngôi, đồng thời đổi tên phủ Gia Định thành trấn Gia Định. Năm
1808, trấn Gia Định đổi lại đổi là thành Gia Định, gồm có 5 trấn là Phiên An,
Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường và Hà Tiên. Năm 1832, vua Minh Mạng tiếp tục
tổ chức ở Gia Định, từ 5 trấn chia thành 6 tỉnh gồm có Phiên An (Gia Định),
Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Lúc bấy giờ, vùng đất Tây Ninh thuộc
Phiên An. Năm 1838, vua Minh Mạng đổi Phiên An thành là tỉnh Gia Định gồm có 3
phủ, 7 huyện. Các phủ là Phủ Tân Bình có 3 huyện, Phủ Tân An có 2 huyện, Phủ
Tây Ninh có 2 huyện là: huyện Tân Ninh và huyện Quang Hóa.
Huyện Tân Ninh: phía Bắc giáp Cao
Miên (núi Chiêng, tức núi Bà Đen), phía Đông giáp huyện Bình Long phủ Tân Bình,
phía Nam giáp huyện Bình Dương phủ Tân Bình và huyện Cửu An phủ Tân An, nguyên
là đạo Quang Phong. Năm Minh Mạng thứ 19 (1838), bỏ đạo lập phủ với tên gọi phủ
Tây Ninh, quản lý 2 huyện (với 7 tổng có 56 làng xã), theo Đại Nam nhất thống
chí: Tân Ninh còn tiếp giáp với cả huyện Kiến Hưng phủ Kiến An tỉnh Định Tường
nhà Nguyễn, vốn chỉ nằm bên bờ Tây sông Vàm Cỏ Tây. Năm 1890, sau khi lập Liên
bang Đông Dương, người Pháp cắt một phần đất hạt Tây Ninh (hạt Tây Ninh nguyên
là toàn bộ phủ Tây Ninh) là phần đất dọc theo rạch Ngã Bát cho Campuchia thuộc
Pháp, trong đó có lẽ gồm cả phần đất tỉnh Svay Rieng (tức Soài Riêng). Các bản
đồ của người Pháp xứ Nam Kỳ thuộc Pháp, vẽ với kỹ thuật Tây phương khá chính
xác, vào các năm 1872 và 1886 (trước khi thành lập Liên bang Đông Dương năm
1887) đều vẽ "vùng lồi" Svay Rieng thuộc đất Nam Kỳ (Cochinchine).
Huyện Quang Hóa, phía Bắc và Đông
giáp huyện Tân Ninh, phía Nam giáp huyện Cửu An phủ Tân An, phía Tây giáp huyện
Kiến Hưng phủ Kiến An tỉnh Định Tường. Huyện lỵ ở thôn Cẩm Giang sau chuyển
sang thôn Long Giang, có 4 tổng Hàm Ninh Hạ, Mộc Hóa, Giải Hóa, Mỹ Ninh, có 32
làng xã. (Đất huyện Quang Hóa phủ Tây Ninh nhà Nguyễn nay có thể là địa phân
các vùng đất phía Nam tỉnh Tây Ninh như Bến Cầu, Gò Dầu, Trảng Bàng, các huyện
Đông Bắc tỉnh Long An như Đức Huệ, Hậu Nghĩa, Mộc Hóa, và phần phía Nam của tỉnh Svay Rieng Campuchia.
Theo Đại Nam Thực Lục thì vào
khoảng năm 1845, Cao Hữu Dực (quyền Tuyên phủ sứ Tây Ninh) cho chiêu mộ dân trong
phủ Tây Ninh lập ra 26 làng: Tiên Thuận, Phúc Hưng, Phúc Bình, Vĩnh Tuy, Phúc
Mỹ, Long Thịnh, Long Khánh, Long Giang, Long Thái, An Thịnh, Khang Ninh, Vĩnh
An, An Hòa, Gia Bình, Long Bình, Hòa Bình, Long Định, Phú Thịnh, Thái Định, Hòa
Thuận, An Thường, Thuận Lý, Thiên Thiện, Hướng Hóa, Định Thái, Định Bình, đều
thuộc phủ Tây Ninh. Vua Thiệu Trị phê chuẩn quyết định này.
Năm 1861, Sau khi thực dân Pháp
chiếm Tây Ninh, sau nhiều lần thay đổi, năm 1897 Tây Ninh gồm có 2 quận là Thái
Bình, Trảng Bàng, trong đó có 10 tổng, 50 làng.
Ngày 1 tháng 1 năm 1900, Toàn
quyền Paul Doumer cho áp dụng nghị định ký ngày 20 tháng 12 năm 1899 đổi các
khu tham biện (inspections) là tỉnh (province). Thời Pháp thuộc, Nam Kỳ được
chia làm 20 tỉnh để cai trị và sau đó Cap St. Jacques (Vũng tàu) tách ra thành
tỉnh thứ 21. Tây Ninh lúc đó là tỉnh thứ 12.
Gia, Châu, Hà, Rạch, Trà
Sa, Bến, Long, Tân, Sóc
Thủ, Tây, Biên, Mỹ, Bà.
Chợ, Vĩnh, Gò, Cần, Bạc và Cấp
(Vũng Tàu)
Ngày 9 tháng 12 năm 1942, Thống
đốc Nam
kỳ ban hành Nghị định 8345 ấn định ranh giới Tây Ninh. Năm 1950, cắt một phần
đất của Thái Hiệp Thạnh cũ thành lập thị xã Tây Ninh. Năm 1957, Tây Ninh chia
thành 3 quận gồm có Châu Thành, Gò Dầu Hạ, Trảng Bàng. Năm 1963, tỉnh Tây Ninh thêm
4 quận là quận Phú Khương, Phước Ninh, Hiếu Thiện, Khiêm Hanh.
Tây Ninh nổi tiếng với những
phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ. Núi Bà Đen cao 986m là ngọn núi cao nhất miền
Nam Việt Nam
và là nơi có nhiều truyền thuyết nổi tiếng, ở đây có động Kim Quang và một ngôi
chùa cùng tên. Tây Ninh là thánh địa của đạo Cao Đài với Tòa Thánh Tây Ninh
nguy nga, tráng lệ. Ngoài ra còn có đạo Phật, đạo Kitô, đạo Hồi và nhiều đạo
khác.
Núi Bà đẹp như một bức tranh sơn thủy
hữu tình. Trông xa xa, ngọn núi như chiếc nón lá nằm úp giữa vùng đồng bằng trù
phú với những cánh đồng lúa xanh bát ngát, cây cối tươi tốt quanh năm. Núi Bà
trải rộng 24km², gồm 3 ngọn núi là núi Bà Đen, núi Phụng và núi Heo, trong đó
cao nhất là núi Bà Đen. Nói đến núi Bà, có Điện Bà, tức là chùa Linh Sơn Tiên
Thạch Tự. Điện Bà ở lưng chừng núi với hai ngôi chùa là chùa Thượng và chùa
Hang.
Ngọn núi này thu hút khách thập
phương vì cảnh núi trời hùng vĩ, nhiều hang động, nhiều ngôi chùa linh thiêng vốn
là nơi ẩn cư của nhiều sư sãi. Trên núi có một số hang động được làm nơi thờ tự
như động Thanh Long, động Ông Hổ, động Ba Cô, động Ba Tuần, động Thiên Thai,
động Ông Tà… Với chiều cao 986m so với mực nước biển, ngọn núi Bà Đen được mệnh
danh là “nóc nhà” Đông Nam Phần.
Theo các vị bô lão truyền miệng
trong dân gian thì ngày xưa, núi Bà Ðen có tên gọi là Núi Một. Trên đó có một
tượng Phật bằng đá, rất linh thiêng. Dân chúng chặt cây lá dọn đường lên núi
cúng Phật. Người lên núi thường phải đi từng đoàn, vì dọc đường có rất nhiều
beo cọp. Có một người con gái tên là Lý Thị Thiên Hương, ở Trảng Bàng văn hay
võ giỏi. Vào mỗi ngày rằm cô hay lên núi lễ Phật. Trong làng, có chàng trai tên
là Lê Sĩ Triệt để ý cô, đem lòng thương mến.
Vì thấy cô có nhan sắc, một ông
quan định dùng võ lực bắt cô đem về làm thiếp. Ông cho một thầy võ thi hành kế
gian. Khi cô Lý bị thầy võ kia đánh bại, sắp gặp nạn, thì Lê Sĩ Triệt cứu
thoát. Về nhà, cô thuật truyện lại, được cha mẹ đồng ý, trai tài gái sắc yêu
nhau, cha mẹ gả cô cho chàng trai họ Lê. Lúc bấy giờ, Võ Tánh đang chiêu binh, Lê
Sĩ Triệt ra tòng quân. Lý Thị Thiên Hương ở nhà chờ chồng. Một hôm, cô đang lễ
Phật trên núi thì gặp một bọn cướp đến cướp chùa, thấy người con gái đẹp vây bắt.
Cô đánh đuổi bọn cướp, nhưng thế cô, mở vòng vây chạy thoát vào rừng rồi mất
tích.
Trên chùa, vị hoà thượng trụ trì
một ngày kia đang tụng kinh, bỗng thấy một người con gái mặt đen nhưng xinh đẹp
hiện ra nói: "Ta đây họ Lý, khi 18 tuổi bị rượt nên té xuống hố chết. Nay
ta đã đắc quả, xin Hoà Thượng xuống triền núi phía Ðông Nam tìm thi hài
ta mà chôn cất dùm". Vị hoà thượng này y lời, đi tìm xác cô, đã chết lâu
ngày nắng thiêu đốt thành màu đen nhưng không tan rã, bèn đem về chôn cất sau
chùa. Lý Thị Thiên Hương rất linh hiển, ai cầu chi được nấy. Dân chúng quanh vùng
tấp nập đến cầu xin. Từ đấy, ngọn núi được dân chúng truyền tụng là Núi Bà Đen (kính trọng gọi là Núi Bà)
Câu chuyện ra tới tai Tả Quân Lê
Văn Duyệt. Ông bèn lên núi tìm hiểu, và hứa dâng sớ về triều phong chức cho cô
gái họ Lý này, nếu cô linh hiển cho ông thấy tận mắt Cô bèn nhập vào xác một ngưòi
con gái, nói rằng: "Hồn của thượng quan sau này sẽ được chức thần kỳ vinh
hiển, nhưng xác của thượng quan sẽ bị hành hạ". Lê Văn Duyệt nói:
"Bổn chức không cầu xin cho biết tương lai mình, mà chỉ muốn biết rõ căn
nguyên của nàng". Cô gái rơi nước mắt, kể lại câu chuyện chết oan ức của
mình, và nhắc lại duyên nợ tiền định với chàng Lê Sĩ Triệt.
Theo lời kể, sau khi thành Bình
Ðịnh thất thủ, Võ Tánh tự hoả thiêu, chồng nàng đã thác, còn nàng chết trở
thành tiên thánh, xuống cõi trần thế để cứu nhân độ thế. Lê Văn Duyệt dâng sớ,
phong cho cô Lý thị Thiên Hương "Linh Sơn Thánh Mẫu", ngự ở Núi Một,
tức là núi Bà Ðen ngày nay. Núi Bà Ðen nổi danh linh hiển, kỳ bí, nhiều phép
lạ, khó ai giải thích được.
Ngoài ra, Tây Ninh nổi tiếng với
các loại sản vật:
Bánh Tráng nướng phơi sương: Sản
vật độc đáo của Trảng Bàng. Lọai sản phẩm này ngày nay được sản xuất theo lối
công nghiệp, là loại bánh tráng hai lớp, nướng và phơi sương, màu trắng ngà. Để
làm ra Bánh Tráng phơi sương phải tốn nhiều công phu và khá cầu kỳ.
Bánh Canh: Bánh Canh Trảng Bàng
là thức ăn nổi tiếng của Tây Ninh có từ rất lâu đời. Nó đã trở thành một sản
phẩm nổi tiếng, Trảng Bàng là điểm dừng chân của du khách. Sợi bánh canh ở đây
làm từ gạo ngon vừa dai, vừa thơm lại mềm mướt. Nước lèo ngọt mùi xương và cộng
với gia vị tạo thành vị thanh nhẹ. Ngoài ra, những thành phần khác như rau
sống, giá, ớt tươi, chanh…đặc biệt thịt heo cuốn với Báng Tráng nướng phơi sương
và 2 loại rau độc đáo: Cần nước và rau Vỵ làm món ăn trở thành độc nhất vô nhị
không nơi nào có. Tất cả hòa quyện với nhau cho ra món ăn tuyệt vời.
Muối tôm: là một món ăn khác rất
nổi tiếng của Tây Ninh. Trong muối có trộn tôm khô rang chín, giả nhỏ; chấm
trái cây cóc, xoài, me, ổi… với muối Tôm Tây Ninh thì khó có thể quên được hương
vị. Muối có thể để được lâu, trong hộp hay túi, bọc ni-lông được bày bán làm quà
cho du khách.
Muối tôm không chỉ gồm muối và
tôm, làm cũng mất nhiều thời gian và công sức nên muối khá đắt. Trong muối có
tôm, thịt, tỏi, cải đỏ, muối, ớt, bột nêm... rồi cho vào xay đều, rang và phơi
cho muối dậy mùi thơm. Tên thì như vậy “Muối”, nhưng muối tôm lại phân thành vô
số các loại với mùi vị và cảm nhận rất khác khi ăn. Muối tôm Tây Ninh gồm nhiều
thành phần và công đoạn làm khá phức tạp nên giá cao hơn so với các loại muối
bình thường.
Mãng cầu Bà Đen: Trồng tại khu vực gần núi Bà Đen của Tây Ninh.
Bánh tráng trộn là món hấp dẫn khác.
Bánh tráng me với những bịch mắm me, hành phi thơm lừng, đậu phộng, muối ớt
dành cho người thích tiện lợi cũng hấp dẫn lắm. Chỉ một bịch với các thành phần
chuẩn bị sẵn, người ăn cứ thế trộn lẫn các gói gia vị, làm thành nước chấm cay,
ngọt ngọt, chua chua để chấm chung với bánh tráng dẻo và dai, ngon khó tả.
Ốc Xu sống trên núi Bà có hình
dáng gần giống loài ốc bươu nhưng mình dẹt và nhỏ hơn. Người dân ở đây cho
rằng, ốc này ăn vào không những ngon vì thịt dai mà còn có tác dụng chữa nhức
mỏi. Ốc Xu ăn luộc hoặc hấp là ngon nhất, giữ nguyên hương vị nhất.
Người ta nói, đơn giản là ốc xu
luộc với sả hoặc hấp gừng, ăn dai và giòn. Đặc biệt, khác vời nhiều loại ốc
chấm mắm, ốc xu ăn với muối tiêu chanh mới đúng vị. Nếu thích đậm đà và lạ
miệng hơn, có thể dùng ốc trộn gỏi, xào me, xào tỏi, xào sa tế...
Nem bưởi: Món nem (ăn chay và ăn
mặn đều dùng được) là một trong những “món ngon vật lạ” của đất Tây Ninh. Nem
bưởi dễ ăn và tiện lợi. Chua chua, mặn mặn, ngọt ngọt, cay ớt và tiêu và mùi
đặc biệt khó lẫn vào đâu đã làm nên “tiếng tăm” của nem bưởi.
Người Tây Ninh tài tình lắm khi
loại bỏ được vị đắng của vỏ bưởi và biến nó thành thứ đồ ăn phổ biến. Nhìn
những chiếc nem màu tươi rói, được gói như nem thịt hẳn nhiều người sẽ ngạc
nhiên lắm khi biết thành phần của nó. Nguyên liệu chính của món này là vỏ bưởi
và đu đủ xanh bào phơi khô trộn với nhiều vị như khế chua, ớt hiểm, tiêu, lá vông
nem, chùm ruột, lá chuối.
Kể về Tây Ninh biết bao giờ mới
cho hết chuyện? Năm mới Tây Ninh Đồng Hương Hội Bắc Cali vừa thành hình. Chúc bà
con càng ngày càng đông, càng vui nhiều và nhắc cho con cháu biết nơi đó ông bà
cha mẹ đã ra đi.
Lê Bình
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét