Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2020

Những giá trị Mỹ và cộng đồng gốc Việt


BM
Nếu một người Mỹ bình thường nào đó bất chợt được hỏi "Những giá trị Mỹ trong con người và văn hóa của bạn là gì?", ắt họ sẽ có phần lúng túng hay không diễn đạt trọn vẹn.

Bởi phần lớn người Mỹ tin rằng, mỗi cá nhân là một chủ thể riêng biệt, có những giá trị, niềm tin và hành xử khác nhau. Mặt khác, họ sống một cách tự nhiên với những giá trị này nên có thể không chú tâm cho câu trả lời mang tính hệ thống và đầy đủ.

Nhưng mỗi cá nhân dẫu có khác biệt thế nào thì người Mỹ cũng có một số giá trị khá chung họ đã hấp thụ được và sống theo nền văn hóa của mình, một cách ý thức hay vô thức.

Nhân kỷ niệm lễ Độc Lập Hoa Kỳ, chúng ta thử xem lại xem những giá trị cốt lõi đó là gì? Và chúng liên quan hay khác biệt gì với cộng đồng gốc Việt tại Mỹ?

BM
  
Giá trị đầu tiên có thể kể là quyền tự do cá nhân mà người Mỹ cổ súy và tôn trọng. Được bảo vệ bằng hiến pháp, người Mỹ có xu hướng suy nghĩ, nói và hành động theo chọn lựa của mình. Họ có những lối sống rất riêng biệt, từ thời trang, thị hiếu cho đến các thói quen, hành xử hàng ngày, nên sẵn sàng bảo vệ, phản kháng một khi họ tin rằng những quyền tự do cá nhân này bị xâm phạm. Đó là lý do mà những quyền tự do mang tầm vóc lớn hơn như tự do ngôn luận và tự do báo chí là điều rất quan trọng trong văn hóa Mỹ.

Người Việt ngược lại, có xu hướng xem sự phục tùng, thỏa hiệp là điều quan trọng. Quyết đoán thay con cái, xem sự vâng phục của con cái là khuôn mẫu gia đình. Nên ngoài xã hội, họ thiếu sự tôn trọng quyền tự do của người khác. Một chiếc váy dẫu khó xem của cô người mẫu nào đó cũng tạo nên cuộc tranh luận cộng đồng ồn ào. Hay việc số đông tấn công vào một vài nhân vật cộng đồng trong thời gian qua chỉ vì những người này nêu dăm dữ liệu hay quan điểm cá nhân ôn hòa và khác biệt, là vài ví dụ về điều này.

BM
  
Giá trị thứ nhì là tính độc lập và tự lực. Đây là giá trị kéo theo từ giá trị tự do. Người Mỹ xem trọng sự độc lập và tự hào về sự tự lực của mình, chính điều này đã làm họ trở nên tự do, không bị phụ thuộc. Họ mong đợi người khác cũng có sự độc lập và tự lực, bắt đầu từ chính trong gia đình. Người Mỹ là xã hội nơi việc con cái ra riêng khi đến tuổi trưởng thành khá phổ biến.

Trong khi đó, người Việt thiếu thói quen khuyến khích và huấn luyện con cái tinh thần độc lập. Không ít người còn phụ thuộc, lạm dụng hệ thống an sinh và phúc lợi xã hội nếu hội đủ điều kiện trên giấy tờ hơn là hoàn cảnh thực sự. Điều lớn hơn, họ mong đợi và kỳ vọng vào ngoại nhân trước những vấn đề dân tộc cần sự tự lực, tự cường.

BM
  
Giá trị rất quan trọng khác trong văn hóa Mỹ là sự bình đẳng, điều được xác quyết trong Tuyên ngôn Độc Lập Hoa Kỳ: "mọi người sinh ra đều bình đẳng". Sự bình đẳng này không mặc nhiên hiện diện theo như tuyên ngôn mà đã trải qua nhiều tranh đấu bằng máu và nước mắt của người dân Mỹ trong thời gian dài để đạt đến những điều mà người di dân được mặc nhiên thừa hưởng khi đến nước Mỹ. Quyền bình đẳng để thăng tiến, để đạt được thành công. Quyền bình đẳng trong pháp luật, hãng sở, học đường, giới tính...

BM
Người Mỹ gốc Việt tại một buổi lễ nhập tịch Hoa Kỳ hồi tháng 7/2018

Đây là một trong những giá trị được trân trọng nhất tại Mỹ và khác biệt nhiều với văn hóa Á Đông. Bởi không ít người gốc Việt còn đặt nặng, phân biệt đối xử theo vị thế xã hội, mức độ thành công hay sự giàu nghèo, ngoại hình... của người khác. Cộng đồng Việt nhìn chung mang dấu hiệu xem thường các cộng đồng bạn nên tình trạng xúc phạm, mạ lỵ cộng đồng người da đen, Mỹ La Tinh… khá phổ biến hiện nay.

Một giá trị quan trọng khác trong văn hóa Mỹ có thể ghi nhận là tính khai phá, thích cạnh tranh và đề cao việc tự do kinh doanh. Đây là đặc tính và giá trị đã tạo ra sự thành công của giới trẻ Hoa Kỳ cho đến sự phát triển của các tập đoàn đa quốc gia. Luôn sáng tạo tìm tòi, không đi theo khuôn mẫu truyền thống, nhiều bức phá kỹ thuật cống hiến cho nhân loại hiện nay là do giới trẻ Mỹ tạo nên. Người Việt xem ra thiếu tinh thần khai phá, thích không gian an toàn và dễ thỏa mãn với thành công giới hạn.

BM
  
Người Mỹ trực tính, thẳng thắn nhưng cởi mở và chân thật. Quan hệ giữa chủ-nhân viên, vợ-chồng, cha mẹ-con cái cùng các mối quan hệ xã hội thường đặt trên nền tảng những giá trị này. Bởi chúng có lợi cho các bên và nhắm đến mục tiêu tích cực cuối cùng. Người Việt ngược lại hay vòng vo, thường né tránh vấn đề trong giao tiếp hay công việc nếu chúng gây bất lợi cho mình.

Người Mỹ xem sự đúng giờ là điều quan trọng. Bất cứ mọi sự kiện quan trọng hay hàng ngày đều diễn ra đúng giờ và nhanh gọn, chính xác theo thời gian biểu. Đây là đặc tính của xã hội phát triển cao vì nó thể hiện năng suất, hiệu quả công việc cùng tính khoa học, kỷ luật. Liệu điều này có khác biệt nhiều với việc luôn vội vã, hấp tấp, chen lấn cắt hàng thường diễn ra nhan nhãn nhưng lại hay trễ nãi, rườm rà trong mọi sinh hoạt của cộng đồng Việt?

Và cuối cùng, nhưng ắt còn có thể kể thêm, người Mỹ luôn nhìn đến tương lai với tinh thần lạc quan. Nước Mỹ không phải không từng trải qua những thử thách, nhưng chính sự phát triển của quốc gia đã làm người dân Mỹ tin rằng tương lai sẽ tốt đẹp hơn. Tự lực và tin vào cá nhân để hướng về tương lai hơn là tin vào số phận, định mệnh. Đó là điều giúp họ luôn chuẩn bị, hoạch định tương lai, ngắn hay dài hạn.

BM
  
Người Việt thì hay nhắc chuyện xưa và thường lấy quá khứ để xét đoán hiện tại và tương lai. Lo xa nhưng tùy tiện, không hề có kế hoạch ngắn hay dài hạn, cả trong đời sống cá nhân, vấn đề công việc cho đến dự án, chiến lược mang tầm mức quốc gia.

Có thể chưa so sánh đầy đủ, nhưng những niềm tin, giá trị, suy nghĩ, hành xử chính yếu kể trên đã tạo nên một văn hóa Mỹ như hiện nay. Kể ra và so sánh không nhằm mục đích tôn vinh hay hạ thấp giá trị của nền văn hóa nào. Bởi phạm trù văn hoá của một dân tộc không mang tính đúng-sai rõ ràng vì chúng có những mặt tích cực lẫn tiêu cực, thích hợp hay không thích hợp với nền văn hóa khác.

Tuy nhiên khi tiếp xúc hay đã sống trong một văn hóa và xã hội có những giá trị như vậy, người ta cần biết và hiểu để có thể hành xử thích hợp. Để nhìn các vấn đề xã hội và người chung quanh bằng sự tôn trọng và công tâm, công bằng hơn, không bị thiên lệch hay mang tính bài bác, cực đoan.

BM
  
Nhầm lẫn giữa vài thành công cá nhân với sức mạnh cộng đồng, nếu không thẳng thắn nhìn nhận, học hỏi và thay đổi theo các giá trị trong văn hóa Mỹ kể trên thì cộng đồng gốc Việt tại Hoa Kỳ không chỉ lạc lõng mà còn sẽ khó bắt kịp các cộng đồng bạn nơi mình đang cư ngụ.



Nhã Duy

Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2020

Tàu cộng với mộng bá chủ toàn cầu


BM
Cơn Đại Dịch Cúm Tàu làm suy yếu nhều quốc gia trong khi quốc gia độc nhất trên thế giới là Tàu cộng lợi dụng cơ hội triển lãm cơ bắp gây nhiều cuộc xung đột.

Vào khoảng tuần đầu tháng 06.2020, Tàu cộng gây nên những xung đột với Ấn Độ, Úc Đại Lợi, Gia Nã Đại, Hoa Kỳ, Đài Loan, Nhật Bản và một số quốc gia khác trên thế giới.

Một bức thư viết tay

BM
  
Bức thư viết tay của công dân Gia Nã Đại Michael Kovrig, 48 tuổi là dấu chứng ông ta còn sống gửi cho vợ như sau ‘’Nếu đây là chút ánh sáng từ địa ngục: từ những đau đớn tinh thần trong các hang động, anh phải phấn đấu để sống còn, anh phải lấp đầy bằng tình yêu cho em’’.

BM
  
Tại quê nhà ở thủ đô Ottawa ở Gia Nã Đại, người vợ tên Vina Nadjibulla không còn cách gì ngoài sự tuyệt vọng. Tuần trước, nàng nhận được tin rằng chồng mình bị kết tội làm gián điệp chống Tàu cộng và có thể lãnh án chung thân.

Thủ tướng Gia Nã Đại Trudeau kết án phán quyết tòa án

BM
  
Michael Kovrig, một cựu nhân viên ngoại giao hiện làm việc cho International Crisis Group bị bắt ở Bắc Kinh tháng 12 năm 2018.

Cùng ngày, thương gia Gia Nã Đại Michael Spavor bị cảnh sát Tàu câu lưu.

Hai cuộc bắt giữ xảy ra vài ngày sau khi Meng Wangzhou, giám đốc tài chánh Huawei là con gái của tổng giám đốc doanh nghiệp này, vì tội gian lận.
Thủ tướng Gia Nã Đại tuyên bố rằng việc bắt giữ hai công dân Gia Nã Đại chỉ là một cuộc trả thù ‘’Đây rõ ràng là quyết định chính trị của nhà nước Tàu cộng, và chúng tôi kết án hành động này’’.

BM
  
Nhà nước Tàu cộng nhiều lần xác nhận rằng Kovrig và Spavor được dùng như ván bài chính trị. Sếp văn phòng Liên Âu Chen Weihua nói với nhật báo China Daily rằng giá trị của Meng gấp nhiều hơn 10 lần so với Kovrig và Spavor.

Đại dịch Cúm Tàu giúp Tàu cộng nhiều tự tin

Hành động kết án hai công dân Gia Nã Đại tăng lên sau những đụng độ cay đắng giữa Tàu cộng và Gia Nã Đại, đồng thời với đụng độ với nhiều quốc gia khác.

BM
  
Chuyên gia về Tàu cộng Theresa Fallon với văn phòng tại Brussel có tên là CREAS phát biểu rằng Tàu cộng thấy rằng đây là cơ hội bằng vàng để chứng minh vai trò lãnh đạo thế giới bằng những động thái hung hăng, không cần biết các quốc gia khác thích hay không thích. Giáo sư Viện Nghiên Cứu Quốc Phòng Oeystein Tunsjoe đồng ý ‘’Rõ ràng la Bắc Kinh cho mình đủ mạnh để ép buộc các quốc gia khác’’. Vị giáo sư này viết nhiều cuốn sách về chính trị địa về Đông Nam Á.

Đánh nhau tay đôi- Nhập cảng thịt bò- Cúm Tàu gọi là ''kung flu''.

Sau đây là một số xung đột quan trọng bên cạnh sự xung dột với Gia Nã Đại.

BM
  
Ấn Độ. Vào tuần trước đã xẩy ra những trận đánh nhay bằng gậy gộc ở biên giới Ấn-Độ và Tàu cộng, với 20 lính Ấn Độ thương vong, nhưng số thương vong về phía Tàu cộng không được thông báo. Hai chính phủ muốn sự việc chìm xuồng nhưng dân chúng Ấn Độ biểu tình phản đối rầm rộ, đòi tẩy chay hàng hóa Tàu cộng.

BM
  
Úc Đại Lợi. Cuối tháng 05.2020, Tàu cộng ngưng nhập khẩu thịt bò từ Úc, nguyên do là để trả thù chính phủ Úc đòi quốc tế phải điều tra gốc gác COVID-19. Hàng loạt hệ thống máy điện tử của chính phủ Úc bị hackers xâm nhập phá hoại, khiến thủ tướng Úc Scott Morrison phải lên án Bắc Kinh là nghi phạm chính.

BM
  
Hoa Kỳ. Chiến tranh thương mại Hoa Kỳ-Tàu cộng càng ngày càng leo thang. Tổng thống Hoa Kỳ Trump kết án đại dịch COVID-19 bắt nguồi từ Tàu cộng. Vào ngày thứ Bảy vừa rồi, tổng thống Hoa Kỳ khiêu khích dân Tàu cộng bằng cách gọi siêu vi trùng COVID-19 là ‘’kung flu’’ đọc trại cụm từ ‘’kung fu’’.

Lãnh đạo Tàu cộng nổi đóa khi Hoa Kỳ cho ra đạo luật trừng phạt vì nhà nước đàn áp dân Ngô Duy Nhĩ tại vùng Xinjiang.    

Tẩy xóa Chương Trình Đoàn Tụ Đài Loan trong ‘’hòa bình’’

BM
  
Anh quốc. Thủ tướng Boris Johnson hứa là Anh quốc sẽ cho 3 triệu dân  Hongkong tị nạn trong trường hợp nhà nước Tàu cộng chấm dứt thỏa thuận cho Hong Kong tự trị đến 2049. Quyết định chính trị đó làm nhà nước Tàu cộng nổi cơn thịnh nộ, hứa sẽ có hành động đáp trả thích đáng.

BM
  
Đài Loan. Ngay từ năm 1949, Tàu cộng tuyên bố rằng sẽ giải phóng Đài Loan sát nhập vào đại lục, nhưng Hoa Kỳ lâu nay vẫn hứa là bảo vệ Đài Loan một khi bị Tàu cộng tấn công. Nay nhà nước Tàu cộng cho rằng thời đại mới đã mở: Chữ ‘’hòa bình’’ không còn hiện hữu trong mục tiêu ‘’đoàn tụ’’ giữa hai bên. Trong tháng 06.2020 máy bay chiến đấu Tàu cộng xâm phạm không phận Đài Loan đến 08 lần.

BM
  
Nhật Bản. Tranh chấp lâu nay giữa hai quốc gia về đảo Diaoyu theo tiếng Tàu và Senkaku theo tiếng Nhật ở biển Hoa Đông lại bùng lên vào những tuần cuối tháng 06.2020 bằng cách Tàu cộng gửi tàu hải cảnh đến đảo này. Cuối tuần rồi, tàu ngầm ‘’nước lạ’’ lảng vảng ngoài khơi đảo Amami-Oshima.

Tổng cộng dân số 7 quốc gia Á Châu vào khoảng 2 tỉ, chiếm ¼ dân số trên quả địa cầu.

Lãnh đạo Tàu cộng muốn làm bá chủ toàn cầu.

BM
  
Từ lâu trước đó, nhà nước Tàu cộng nghe theo lời dặn của Đặng Tiểu Bình năm 1990 là ‘’còn nhiều thì giờ, hãy ẩn nhẩn dấu mình’’. Nhưng đến 10.2017, tình trạng đã thay đổi khi Tập Cận Bình tuyên bố ‘’Giờ đây đã đến lúc Tàu cộng lãnh đạo thế giới’’.

Theresa Fallon phát biểu ‘’Những năm sau này Tàu cộng trình diễn trước thế giới sức mạnh của mình và tăng tốc vào những tháng cuối cùng này’’. Chiến thuật của họ Tập đã làm cho uy tín thế giới của Tàu cộng trở nên tồi tệ.

Hai trong số ba người Mỹ có cảm tưởng tiêu cực về Tấu Cộng, và liên hệ của Tàu cộng với các quốc gia trên thế giới ở mức tồi tệ, hơn cả vào thời kỳ thảm sát Bắc Kinh năm 1989, trước cả tình trạng xung đột với Ấn Độ, Gia Nã Đại và với Úc Đại Lợi.

Oeystein Tunsjoe nói rằng sự xung đột khu vực của Tàu cộng khác với các quốc gia ở xa hơn. Đối với Gia Nã Đại và Hoa Kỳ là tính thực dụng, nhưng với các quốc gia trong vùng thì Tàu cộng sẵn sàng gây chiến.

Tàu cộng cho rằng Liên Âu rất yếu kém

BM
  
Oeystein Tunsjoe nghĩ rằng chính quyền Bắc Kinh đã quá tự tin. Nhiều chỉ dấu cho thấy Tàu cộng tự bắn vào chân mình với thái độ hung hăng.

Theresa Fallon thì cho rằng Tàu cộng lèo lái một trò chơi có tính toán. Tàu cộng thử thách phần còn lại của thế giới bằng cách nói rằng ‘’Chúng tôi đây này, các anh có dám làm gì không?’’vì giới lãnh đạo Tàu cộng biết rằng không có quốc gia nào dám trừng phạt họ cả. 

BM

Xem ra giới lãnh đạo Tàu cộng cho rằng Liên Âu yếu kém, và khi xẩy ra xung đột với Tàu cộng thì gánh nặng được đẩy sang cho Hoa Kỳ cáng đáng. Một ví dụ là qua luật-an-ninh mới cho Hong Kong, Liên Âu không dám thực hiện lệnh cấm vận. 

Sự hình thành liên minh dân chủ

Fallon tin rằng về lâu về dài, Tàu cộng sẽ gặp phải những thử thách, một bên là khối Tàu cộng và một bên là khối Tây Phương. Cung cách tiếp cận hung hăng của Tàu cộng sẽ thúc dục phản ứng của Tây Phương.

BM
  
Vào thời gian mới đây, chúng ta thấy một số phương sách của  Tây Phương với sự hình thành các khối liên minh. Bằng chứng là các đại diện khối của các đại biểu quốc hội Nauy cùng 15 quốc gia khác hình thành liên minh, bàn thảo sách lược đối phó với Tàu cộng.

Chúng ta nhìn thấy khả năng Ấn Độ, Nhật Bản và Hoa Kỳ và Úc Đại Lợi sẽ tham gia. Thủ tướng Anh đặt tên cho 10 thành viên dân chủ là DIO thay thế cho Nhóm-G7.




Kristoffer Roenneberg _ Tôn-thất Sơn

Ngày lễ Độc Lập Hoa Kỳ 'Fourth of July'


BM
Ngày Ðộc Lập nói chung là ngày mà các quốc gia, lớn hoặc nhỏ, mở hội mừng vui được thoát khỏi ách cai trị của một nước khác, được tự do.

Ngày Ðộc Lập của Hoa Kỳ không giống như ngày Ðộc Lập của các quốc gia khác. Bởi vì ngày 4 tháng 7 năm 1776 là ngày khai sinh của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Ðó là ngày mà Quốc Hội của Ðệ Nhị Lục Ðịa (Second Continental Congress) chấp thuận Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập và tuyên bố các Thuộc Ðịa Mỹ được tự do và trở thành các tiểu bang độc lập.

CON ÐƯỜNG ÐI ÐẾN ÐỘC LẬP

BM
  
Nhiều người thắc mắc tại sao Hoa Kỳ là một quốc gia mới tại Mỹ châu, một lục địa mới được khám phá mà lại có một Ngày Ðộc Lập? Như vậy, trước đó Hoa Kỳ đã lệ thuộc vào quốc gia nào?

Theo lịch sử Hoa Kỳ thì trong thời kỳ các di dân từ Âu Châu vượt biển đến Mỹ Châu để khai phá và định cư tại lục địa mới này, họ đã thành lập được 13 thuộc địa (Colonies). Các di dân phần lớn từ Anh Quốc, Pháp và một số từ Hòa Lan, Ý vân vân.

Vương Quốc Anh và Pháp Quốc đã tranh giành nhau để kiểm soát vùng phía đông Bắc Châu Mỹ trong thời kỳ các thuộc địa đang hình thành. Và khi mà các di dân đi sâu vào nội địa, thì cả hai nước Anh và Pháp đã chiếm một vùng lãnh thổ rộng lớn nằm giữa dãy núi Appalachian Mountains và sông Mississippi. 

Vì biên giới giữa các vùng đất ở Bắc Mỹ mà Anh và Pháp chiếm cứ không rõ ràng và cũng vì cả hai nước này đều tranh nhau mua những bộ da và lông thú của người Da Ðỏ, cho nên xảy ra xung đột. 

Cuộc tranh giành này đã làm bùng nổ cuộc Chiến Tranh của người Pháp và người Da Ðỏ chống lại người Anh vào năm 1754, gọi là “French and Indian War”.

BM
  
“French and Indian War” là cuộc xung đột tại Bắc Mỹ trong quy mô chiến tranh đế quốc giữa Anh và Pháp, hai nước đi tìm thuộc địa. Trong cuộc chiến tranh này mỗi bên đều có sự ủng hộ của các bộ lạc Da Đỏ. Cuộc chiến tranh này kéo dài từ 1754 đến 1763, lịch sử gọi là “The Seven Years’ War” - "Cuộc Chiến Bảy Năm".

Cuối cùng quân Anh đã thắng. Hai bên Anh và Pháp ký Hiệp Ðịnh Paris năm 1763, (Treaty of Paris in 1763). Theo Hiệp Ðịnh này, Vương Quốc Anh được quyền kiểm soát:

BM  

·        hầu hết các đất đai của Pháp (bây giờ là Canada).
·        và tất cả các đất đai của Pháp trên lưu vực phía Ðông sông Mississippi ngoại trừ vùng New Orleans.

Cũng trong năm 1763, Vương Quốc Anh được tiếp nhận vùng Florida từ người Tây Ban Nha. Do đó, Anh Quốc đã kiểm soát hầu hết các lãnh thổ ở Bắc Mỹ từ Ðại Tây Dương đến sông Mississippi.

Cuộc chiến tranh Pháp và Da Ðỏ (The French and Indian War) đã là một khúc quanh của Lịch Sử Mỹ. Nó đã gây ra một loạt thay đổi trong chính sách của Anh Quốc tại châu Mỹ làm nảy sinh ra phong trào giành độc lập của các thuộc địa.

ANH QUỐC THAY ÐỔI CHÍNH SÁCH

BM
  
Cuộc Chiến Tranh Pháp và Da Ðỏ đã tạo nên cho người Anh nhiều vấn đề quan trọng. Sau cuộc chiến, Vương Quốc Anh đã tìm cách tăng cường sự kiểm soát trên các vùng lãnh thổ tại Mỹ Châu vừa mới mở rộng. 

Ngoài ra, trong cuộc chiến đánh quân Pháp và quân Da Ðỏ, Vương Quốc Anh đã phải tiêu rất nhiều tiền của, làm cho số nợ của quốc gia tăng lên gần gấp đôi.

Vua George đệ Tam, lên ngôi năm 1760, chỉ thị cho Quốc Hội Anh thiết lập các chính sách để giải quyết các vấn đề ấy. Lập tức Quốc Hội Anh thông qua các điều luật hạn chế quyền tự do của cư dân thuộc địa Mỹ, đánh thuế vào họ (hoặc vừa hạn chế tự do vừa đánh thuế.)

BM
  
Trong năm 1763, Quốc Hội Anh cũng đã biểu quyết việc đóng quân Anh thường trực tại Bắc Mỹ để củng cố quyền kiểm soát của người Anh trên lãnh thổ này. Hai năm sau, có đạo luật gọi là “Quartering Act” quy định rằng các cư dân thuộc địa phải cung cấp lương thực và tiếp liệu cho quân đội Anh. Vương Quốc Anh cũng tìm cách gìn giữ hòa bình tại Bắc Mỹ bằng sự thiết lập quan hệ tốt với các bộ tộc thổ dân Da Ðỏ. Người Da Ðỏ đã bị mất đi một phần khá lớn đất đai cho các di dân da trắng.  

Ðể lấy lòng người Da Ðỏ, Vương Quốc Anh ra tuyên cáo Tháng 10-1763, cấm các cư dân thuộc địa Mỹ lấn chiếm về phía Tây dãy núi Appalachian cho đến khi các hiệp định ký kết với người Da Ðỏ có thể cho phép mở rộng đến các vùng đất đó. 

Vua George và Quốc Hội Anh nghĩ rằng đã đến lúc những cư dân thuộc địa phải bắt đầu tuân hành các luật lệ thương mại và phải trả phần đóng góp của họ trong các chi phí để duy trì Ðế Quốc Anh. 

BM
  
Năm 1764, Quốc Hội Anh thông qua đạo luật “Sugar Act”. Luật này cho phép thu các thứ thuế trên các loại đường và mật nhập vào các thuộc địa. Luật này cũng cho các viên chức Anh được quyền khám xét những cơ sở kinh doanh và nhà cửa của những người bị tình nghi là vi phạm luật này. 

BM
  
Năm 1765, đạo luật “Stamp Act” mở rộng ra khắp các thuộc địa các loại thuế truyền thống của Anh Quốc như thuế đánh vào nhật báo, tài liệu pháp lý và nhiều loại văn bản khác.

PHẢN ỨNG CỦA CÁC THUỘC ÐỊA 

Cư dân các thuộc địa Mỹ đã chống đối một cách gay gắt các chính sách mới của Anh quốc. Họ tuyên cáo rằng chính phủ Anh quốc không có quyền giới hạn việc định cư của họ, cũng không có quyền tước đoạt tự do của họ bằng bất cứ một cách nào khác. Họ chống đối các thứ thuế mà Anh quốc đặt ra một cách quyết liệt. Họ lý luận rằng: cư dân thuộc địa không có đại diện trong Quốc Hội, do đó, Vương quốc Anh không có quyền đánh thuế họ. Cư dân thuộc địa đã bộc lộ ý tưởng này bằng biểu ngữ với nội dung “Ðánh thuế mà Không có Ðại Diện là Ðộc tài” - ”Taxation Without Representation is Tyranny.”

Ðể phản đối các luật mới, cư dân thuộc địa đã tổ chức một cuộc tẩy chay hàng hóa Anh Quốc một cách rộng khắp. 

Một số cư dân thuộc địa tham gia các hội bí mật (hội kín) có tên là “NHỮNG NGƯỜI CON CỦA TỰ DO” (Sons of Liberty). Các nhóm này đe dọa dùng bạo lực để ngăn chặn sự thi hành các đạo luật của Anh Quốc.

Năm 1765, đại diện của chín thuộc địa đã gặp nhau để bàn về luật “Stamp Act” và tìm cách liên kết hành động chống lại Vương Quốc Anh.

BM
  
Cuộc tẩy chay và sự phản kháng của các thuộc địa đã báo động đến các nhà lãnh đạo Vương quốc Anh. Năm 1766, Quốc Hội rút lại đạo luật Stamp Act. Nhưng đồng thời Quốc Hội này lại tuyên bố rằng Vương Quốc Anh vẫn có quyền ban hành luật cho các thuộc địa.

Vì vậy sự lắng dịu giữa những thuộc địa Mỹ và Anh quốc chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn ngủi. Các xung đột lại dấy lên.

Năm 1767, Quốc Hội Anh thông qua luật “Townshend Acts” đánh thuế trên các loại sản phẩm có chất chì, trên sơn, giấy và trà nhập vào các thuộc địa. 

Chính những luật này và một số luật khác đã khơi lại sự bất mãn trong các cư dân thuộc địa. Khi sự căng thẳng giữa người thuộc địa Mỹ và người Anh gia tăng, Vương Quốc Anh đã phản ứng bằng cách gửi quân đội đến Boston và New York City. Sự xuất hiện của quân lính Anh Quốc trên các đường phố đã làm cho dân thuộc địa sùng sục nổi giận.

Ngày 5-3-1770, thường dân thành phố Boston đã mắng nhiếc và chế nhạo một nhóm binh sĩ của quân đội Anh. Quân đội Anh đã bắn vào thường dân làm ba người chết và tám người bị thương, trong đó có hai người chết tại bệnh viện.

BM
  
Biến cố bất ngờ này, được gọi là Cuộc Thảm sát Boston (Boston Massacre), đã gây xúc động người Mỹ và làm điên đầu chính phủ Anh. 

Năm 1770, Quốc Hội Anh rút lại hầu hết các sắc thuế của “Townshend Acts” chỉ giữ lại một thứ, đó là thuế đánh vào trà. Ba năm sau, 1773, Quốc Hội Anh giảm thuế nhập cảng trên trà do công ty East India, một xí nghiệp của Anh Quốc. Việc làm này đã đụng chạm đến dân thuộc địa theo hai cách: thứ nhất, Vương Quốc Anh tái khẳng định quyền đánh thuế dân thuộc địa, và thứ hai, tạo lợi thế cho Công Ty Trà East India trong thương mại, như thế là bất công. 

Giận dữ, người Mỹ thề không dùng trà nữa và các thương gia thuộc địa từ khước việc bán trà.

BM
  
Ngày 16-12-1773, một nhóm dân thuộc địa Mỹ đã diễn tuồng Boston Tea Party để minh họa sự chống đối của họ. Y phục như người Da Ðỏ, cư dân thuộc địa nhảy lên thuyền buôn của công ty East India và ném những thùng trà trên thuyền xuống Hải Cảng Boston.

Ðầu năm 1774, tức giận vì vở kịch Boston Tea Party, Quốc Hội Anh đã ra một đạo luật để trừng phạt dân thuộc địa, trong đó có khoản đóng cửa hải cảng Boston và gia tăng quyền lực cho viên Toàn quyền Hoàng Gia Anh tại thuộc địa Massachusetts và buộc dân thuộc địa phải cung cấp nhà ở và nuôi binh lính Anh Quốc. 

Dân thuộc địa Mỹ gọi đạo luật này là “Intolerable Acts” nghĩa là “Không thể chấp nhận được”. 

BM
  
Cũng trong năm 1774, theo đạo luật “Quebec Act”, Vương Quốc Anh mở rộng biên giới của các thuộc địa Anh tại Quebec (nay là Canada) đến vùng đất phía Bắc sông Ohio. Quebec là một thuộc địa rất đông người Pháp, sự kiện này làm cho người Mỹ nhận thấy là đang có sự bành trướng của thuộc địa này.

Ðạo luật mà Mỹ gọi là “Intolerable Act” đã làm cho sự phẫn nộ Anh quốc càng ngày càng dâng lên. Ngày 7-9-1774, các phái đoàn của 12 thuộc địa đã họp Nghị Hội Lục Ðịa Ðầu Tiên (the First Continental Congress) tại Philadelphia. 

Các phái đoàn này gồm những người có tinh thần trách nhiệm, không thích sự rối loạn phi pháp, họ vẫn muốn có sự dàn xếp êm thấm với chính phủ Anh quốc. Họ tái khẳng định sự trung thành với Vương quốc Anh, thừa nhận rằng Quốc Hội có quyền chỉ đạo các công tác đối ngoại của thuộc địa. Nhưng đồng thời, các phái đoàn cũng kêu gọi chấm dứt mọi cuộc buôn bán với Vương quốc Anh cho đến khi Quốc Hội rút lại một số luật và thuế kể cả “Intolerable Act”.

Vua George mất hết hy vọng hòa hợp với các thuộc địa, đã nhấn mạnh rằng các thuộc địa phải lựa chọn sự tuân phục luật lệ của Anh Quốc hoặc là bị tiêu diệt.

BM
  
Thế là Chiến Tranh Cách Mạng (Revolutionary War) bùng nổ. Ngày 19-4-1775, quân đội Anh tìm cách tịch thu hoặc phá hủy các tiếp liệu quân sự của dân quân Massachusetts. Hành động này đã khai hỏa cho cuộc Chiến Tranh Cách Mạng.

Dân thuộc địa - đầu tiên tại Lexington, tiếp theo là Concord, Massachusetts - đã đứng lên tự võ trang chống lại quân Anh.

Những người Mỹ can trường tại Concord đã chận đứng cuộc tiến quân của Anh. Tin về sự thành công này lan nhanh và hy vọng chiến thắng Vương quốc Anh ngày càng lớn lên.

Các lãnh tụ của thuộc địa họp Nghị Hội Lục Ðịa Lần Thứ Hai vào ngày 10-5, 1775. Nghị Hội phải đối diện với nhiệm vụ chuẩn bị cho các thuộc địa lâm chiến. Nghị Hội tổ chức Ðạo Quân Lục Ðịa được dân từ các thuộc địa về tham gia.  

Ngày 15-6, Nghị Hội tấn phong George Washington của Virginia làm Tư lệnh Tối Cao của Quân Ðội. 

BM
  
Ngày 23-8-1775, Vua Anh, George chính thức tuyên bố tình hình nổi loạn của các thuộc địa tại Mỹ Châu. Nhà vua cảnh cáo người Mỹ hãy chấm dứt cuộc nổi loạn hoặc sẽ phải bị đánh bại bởi Vương Quốc Anh. 

Lời đe dọa này của Vua George đã không có tác dụng nào đến sự quyết tâm chiến đấu của dân thuộc địa. Chỉ có một số người - gọi là người trung thành - ủng hộ sự tuân phục luật lệ Anh quốc, nhưng đa số người Mỹ lúc bấy giờ, đều ủng hộ cuộc chiến đấu cho độc lập.

Những người còn lưng chừng đã được thuyết phục khi họ đọc cuốn sách mỏng của Thomas Paine về “Lẽ Phải Thông Thường” (Common Sense). Trong cuốn sách nhỏ sáng giá này, Thomas Paine đã biện minh cho chính nghĩa của Tự Do. Ông chỉ đưa ra cho người Mỹ hai con đường để lựa chọn: Một là chấp nhận chế độ độc tài của Vua Anh, hai là phá bỏ các xiềng xích, trói buộc của họ bằng cách tuyên cáo thành lập một nước Cộng Hòa. Ða số dân Mỹ tại 13 thuộc địa đầu tiên đã lựa chọn tranh đấu cho độc lập.

BM
  
Ngày 4 tháng 7 năm 1776, Nghị Hội Lục Ðịa Lần Thứ Hai đã chính thức tuyên cáo nền độc lập và thành lập Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ qua sự chấp nhận Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập. 

Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập do Thomas Jefferson của Virginia soạn thảo. Bản tuyên ngôn này là một hành động xóa bỏ vương quyền, Quốc Hội và người Anh. Nó cũng đặt nền tảng cho chính nghĩa của cuộc cách mạng bằng những sự thật hiển nhiên của con người.

Nội dung Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Hoa Kỳ rất có giá trị thuyết phục về cả hai mặt: đạo lý nhân bản và chính trị. Nhiều đoạn trong bản tuyên ngôn đã gây một ảnh hưởng sâu xa trên nhân dân Hoa Kỳ và nhiều dân tộc khác trên thế giới.  

Ðặc biệt dòng tuyên bố rằng:

BM
  
“Chúng ta duy trì những chân lý này, chúng hiển nhiên rằng tất cả mọi người được sinh ra đều bình đẳng, và được Thượng Ðế ban cho một số Quyền không thể bị tước đoạt, trong đó có những quyền như Sự sống, Tự Do và Quyền tìm kiếm Hạnh Phúc.” - "We hold these truths to be self-evident, that all men are created equal, that they are endowed by their Creator with certain unalienable Rights, that among these are Life, Liberty and the pursuit of Happiness.”

Ðể bảo vệ những quyền này, người ta phải tổ chức chính phủ và chính phủ phải thi hành các quyền lực do nhân dân đồng thuận và giao phó. Khi một chính phủ không còn tôn trọng quyền lợi của nhân dân, thì nhân dân có bổn phận thay đổi chính phủ ấy, hoặc hủy bỏ nó để thay vào một chính phủ mới.

BM
  
Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Hoa Kỳ là một chiến thắng của người Mỹ tại 13 thuộc địa đầu tiên của Hoa Kỳ (sau này là 13 tiểu bang đầu tiên, được biểu tượng bằng 13 vạch trên là quốc kỳ Mỹ hiện nay) đối với đế quốc Anh hùng mạnh. Nó đã ảnh hưởng sâu xa đến các quốc gia khác trên thế giới, nhất là các quốc gia bị các nước tây phương chiếm làm thuộc địa và thi hành các chính sách hà khắc.



Nguyễn Châu