Thứ Sáu, 25 tháng 7, 2014

NGUỒN GỐC CHỮ QUỐC NGỮ



HUỲNH ÁI TÒNG
A. Đại Cương.

Danh từ chữ Quốc ngữ hay chữ Việt, người Việt chúng ta đã dùng từ lâu, mặc dù nó không được chính danh. Bởi vì danh từ chữ Quốc ngữ là danh từ chung, chỉ cho các thứ chữ của một nước, chẳng hạn chữ Nôm ( 1 ) cũng là chữ Quốc ngữ của nước ta, nhưng do chúng ta dùng lâu đã quen, nên danh từ chữ Quốc ngữ để chỉ cho chữ viết chúng ta dùng ngày nay. Chữ nầy thoạt đầu do những vị giáo sĩ Tây phương truyền đạo tại Việt Nam, họ mượn mẫu tự La tinh, ghép lại để ghi âm địa danh và nhân vật địa phương, từ đó nó đã trải qua các thời kỳ hình thành chữ Quốc ngữ, qua quá trình hình thành, nó đã được sự đóng góp của người Việt cũng như người ngoại quốc, phần chính vẫn là người Việt chúng ta.

Sự hình thành chữ Quốc ngữ có thể chia ra làm ba thời kỳ :
* Thời kỳ sáng tạo từ năm 1621. 
* Thời kỳ xây dựng năm 1651. 
* Thời kỳ phát triển từ năm 1867.
Chúng ta biết rằng, khoảng giữa thế kỷ XVI, lúc ấy nước ta chia thành Nam, Bắc triều. Năm 1533, có giáo sĩ Irigo (I-Nê-Khu), người Âu, theo đường biển vào nước ta ở Đàng Ngoài, tại Nam Định để giảng đạo. Năm 1596, giáo sĩ Diago Advarte đến Đàng Trong ở một thời gian rồi bỏ đi, cho đến năm 1615, giáo sĩ Francesco Buzomi đến lập Giáo Đoàn Đàng Trong (Mission de la Cochinchine), đến năm 1627, giáo sĩ Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) mới lập Giáo Đoàn Đàng Ngoài (Mission de Tonkin).
Cả hai giáo đoàn nầy đều thuộc Dòng Tên, có một trung tâm truyền giáo ở Áo Môn (Macao - Trung Quốc), vì trước kia người Bồ Đào Nha sang Trung Hoa buôn bán, họ ở bán đảo Schangch'nan thuộc Quảng Châu, vào khoảng năm 1557, có bọn cướp biển trú ẩn ở Áo Môn, thường hay khuấy nhiễu Quảng Châu, nên người Trung Hoa nhờ các thương gia Bồ Đào Nha dẹp bọn cướp biển ấy, sau khi dẹp xong bọp cướp, người Bồ Đào Nha xin phép nhà cầm quyền Trung Hoa cho họ trú ngụ ở bán đảo Schangch'nan và Áo Môn, mỗi năm họ đóng thuế cho chánh quyền Trung Hoa, cho đến thế kỷ XX Áo Môn vẫn còn thuộc Bồ Đào Nha.
Thuở đó, các nhà truyền giáo Tây phương muốn sang Viễn đông, họ đều theo các thương thuyền Bồ Đào Nha, cho nên họ chọn Áo Môn làm trung tâm truyền giáo để hoạt động ở Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam, nơi ấy có cả một Viện thần học " Madre de Dieux " (Mẹ Đức Chúa Trời).
Do đó các giáo sĩ người Âu thường từ Áo Môn sang Đàng Ngoài hay Đàng Trong và ngược lại, họ thường dùng ngôn ngữ Bồ Đào Nha để giao dịch với nhau, những phúc trình truyền giáo hay thư từ gửi về La Mã có khi họ viết chữ Bồ, có khi họ viết chữ La Tinh.

B. Sự Hình Thành Chữ Quốc Ngữ
I.- Thời Kỳ Sáng Tạo Chữ Quốc Ngữ

Không phải chữ Quốc ngữ hình thành do sự ngẫu nhiên từ những chữ phiên âm tiếng Việt, thực ra chữ Quốc ngữ hình thành theo hướng chung của các giáo sĩ Tây Phương, họ muốn La Tinh hóa các chữ Á Đông nằm trong địa bàn truyền giáo của họ.
Thật vậy, tại Trung Hoa, Hoa ngữ được các nhà truyền giáo dùng mẫu tự La Tinh phiên âm trước nhất, công việc nầy do hai giáo sĩ Dòng Tên là Micac Ruggieri và Matteo Ricci đã soạn quyển Ngữ vựng hay Tự vựng Bồ-Hoa, quyển nầy mỗi trang chia làm 3 cột : chữ Bồ, chữ Hán, phiên âm Hoa ngữ, tài liệu nầy soạn khoảng năm 1584-1588, bảng viết tay còn lưu trử tại văn khố Dòng Tên ở La Mã (Rome).
Năm 1598, giáo sĩ Ricca và Cateneo đã dùng ký hiệu để ghi các thanh Hoa ngữ.
Tại Nhật Bản, các tác phẩm chữ Nhật đã được La tinh hóa, từ năm 1592 đến năm 1596 có đến 10 tác phẩm loại nầy được in ra, hai tác phẩm quan trọng sau đây đáng được nhắc đến:
1) Cuốn Giáo lý ghi bằng tiếng Nhật theo mẫu tự La Tinh có tên là : Dotrina Jesus no Compania no Collegio Amacusa ni voite superiores no vou xi no comuni core no fan to nasu mono nari, Nengi, 1592.
2) Cuốn tự điển La - Bồ - Nhật: Dictionarium latino lusitanicum ac Japonium (In Amacusa in Collegia Japonico Societa Jesus, Anno 1595)
Ngoài ra còn có sách ngữ pháp Nhật được in theo mẫu tự a, b, c vào năm 1603-1604.
Tại Việt Nam, thời kỳ sáng tạo chữ Quốc ngữ có thể chia ra làm 2 giai đoạn :
* Giai đoạn phiên âm. 
* Giai đoạn cấu tạo câu.

1.- Giai đoạn phiên âm.

Về nguồn gốc, có lẽ câu sau đây là một dòng chữ xuất hiện đầu tiên, trong tiến trình hình thành chữ Quốc ngữ.
" Con gno muon bau tlom laom Hoalaom chian ".
Câu nầy, theo giáo sĩ Christofora Borri ( 2 ), là câu mà các giáo sĩ đàng trong đã dùng trước khi ông có mặt tại đây, nó có nghĩa là : Con nhỏ muốn vào trong lòng Hoa Lang chăng ?
Danh từ Hoa Lang, không rõ do đâu mà có, nhưng đó là danh từ do người Việt Nam thời bấy giờ dùng để chỉ cho người Bồ Đào Nha, và sau đó được dùng để gọi chung các nhà truyền giáo Tây Phương. Như vậy câu trên là câu các nhà truyền giáo Tây phương muốn hỏi một người Việt rằng : " Muốn vào đạo Thiên chúa chăng ? " Vì lẽ câu nói không diễn tả được rõ ý nên Linh mục Buzomi đã sữa lại như sau : " Muon bau dau Christiam chiam ? " ( Muốn vào đạo Christiang chăng ?).
Đây là câu trích trong quyển sách của Christoforo Borris xuất bản năm 1631 tại La Mã, viết bằng chữ Ý ( 3 ). Tuy vậy, chúng ta có thể coi những chữ phiên âm trong sách nầy đã được ông dùng trong thời gian từ 1618 đến 1621, là thời gian ông sống ở Đàng Trong.
Phiên âm : Nghĩa 
Anam : An Nam 
Tunchim : Đông Kinh 
Ainam : Hải Nam 
Kemoi : Kẻ mọi 
Cacciam : Cả chàm (Kẻ Chàm) 
Sinunua : Xứ Hóa ( Thuận Hóa) 
Quamguya : Quảng Nghĩa 
Quignin : Qui Nhơn 
Dàdèn, lùt : Đã đến lúc 
Dàdèn lùt : Đã đến lúc 
Scin mocaij : Xin một cái 
Chià : Trà 
Cò : Có 
....... 
Onsaij : Ông sãi 
Quanghia : Quảng Nghĩa 
Nuoecman : Nước mặn 
Da, an, nua : Đã ăn nữa, 
Da, an, het : Đã ăn hết 
Omgne : Ông nghè 
Tuijciam,biet: Tui chẳng biết 
Onsaij di lay : Ông Sãi đi lại 
Bàncò : Bàn Cổ 
Maa : Ma 
Maqui, Macò : Ma quỉ, ma quái 
Bũa : Vua 
Chiuna : Chúa
Bản phúc trình của Linh mục João Roig viết bằng chữ Bồ Đào Nha tại Áo Môn ngày 20-11-1621, để gửi về La Mã, trong ấy có phiên âm vài danh từ như sau :
An nam : An Nam 
Sinoa : Xứ Hóa 
Usai : Ông Sãi 
Ungne : Ông nghè 
On trũ : Ông trùm 
Ca cham : Ca chàm ( kẻ chàm, tức Thanh Chiêm, thủ phủ Quảng Nam Dinh, thời ấy dân chúng gọi là Cả Chàm hay Dinh Chàm) 
Nuocman : Nước Mặn 
Bafu : Bà phủ 
Sai Tubin : Sãi Từ Bình ( ? ) 
Banco : Bàn Cổ 
Oundelinh : Ông Đề Lĩnh
Cùng năm ấy, Linh mục Gaspa Luis cũng viết một bảng tường trình bằng La văn tại Áo Môn ngày 12-12-1621 gửi cho Linh mục Mutio Vitelleschi ở La Mã, để báo cáo về giáo đoàn Đàng Trong, trong ấy có dùng vài phiên âm :
Cacham : Kẻ chàm 
Nuocman : Nước Mặn 
Ongne, Ungué : Ông nghè 
Bancô : Bàn Cổ
Đến ngày 16-6-1625, giáo sĩ Đắc Lộ có viết một lá thư bằng Bồ văn gửi cho Linh mục Nuno Mascarenhas, trong ấy có vài phiên âm :
Ainão : Hải Nam 
Tunquim, Tunquin : Đông Kinh
Thêm một tài liệu khác Gaspar Luis viết bằng La văn ngày 1-1-1626 tại Nước Mặn để gửi cho Linh mục Mutio Vitelleschi ở La Mã, trong ấy có phiên âm một số địa danh và danh từ:
Fayfó : Hải phố (Fayfo : Hội An) 
Cacham : Kẻ chàm 
Nuocman : Nước Mặn 
Pullocambi : ? 
Dinh cham : Dinh chàm 
Quanghia : Quảng Nghĩa 
Quinhin : Qui nhơn 
Ranran : Ran ran ( tức là sông Đà Rằng ở Phú Yên) 
Bendâ : Bến đá 
Bôdê : Bồ đề 
Ondelimbay : Ông Đề Lĩnh Bảy 
Ondedoc : Ông Đề đốc 
Unghe chieu : Ông nghè Chiêu 
Nhit la khaun, khaun la nhit : Nhứt là không, không là nhứt
Và Linh mục Antonio de Fontes người Bồ Đào Nha, đã có đến ở Đàng Trong năm 1624 và Dinh Chàm với Linh mục Pina và Đắc Lộ, cũng ngày 1-1-1626, Linh mục Fontes viết tại Hội An một bản tường trình bằng Bồ văn gửi cho Linh mục Mutio Vitelleschi là Bề Trên Cả Dòng Tên ở La Mã, bảng tường trình nầy gồm có 3 phần, trong ấy cũng cho chúng ta biết thuở ấy giáo đoàn Đàng Trong có 3 cơ sở: Hội An, Kẻ Chàm (Quảng Nam) và Nước Mặn (Qui Nhơn). Trong bảng tường trình nầy, có các phiên âm :
Digcham : Dinh Chàm 
Nuocman : Nước Mặn 
Quinhin : Qui Nhơn 
Sinua, Sinuâ : Xứ Hóa 
Orancaya : ? 
Quan : Quảng (Quảng Nam) 
Xabin : Xá Bình ? 
Bếndá : Bến đá 
Bude : Bồ đề 
Ondelimbay: Ông Đề Lĩnh Bảy 
Ondedóc : Ông đề đốc 
Onghe Chieu : Ông nghè Chiêu 
Nhít la khấu, khấu la nhít : Nhứt là không, không là nhứt 
Dinh Cham : Dinh Chàm 
Sinóa : Xứ Hóa
Ngày 13-7-1626, Linh mục Francesco Buzomi viết một lá thư chữ Ý gửi cho Linh mục Mutio Vitelleschi, cách phiên âm có tiến triển phần nào, vì các danh từ ghi theo đơn âm như ngày nay, các chữ phiên âm trong bức thư nầy gồm có:
Xán tí : Xán tí (Thượng đế) 
Thiên chu : Thiên chủ (Thiên chúa) 
Thiên chũ xán tí : Thiên chủ thượng đế 
Ngaoc huan : Ngọc hoàng
Cho đến năm 1631, có thêm hai tài liệu của Đắc Lộ: một vào ngày 16-1-1631, ông có viết một bức thư gửi cho Linh mục Nuno Mascarenhas ở La Mã , trong ấy chỉ tìm thấy có một chữ phiên âm Thinhũa : Thanh Hóa, và một bản văn khác thuật lại việc ông cùng Linh mục Pedro Marques tới cửa Bạng (Thanh Hóa) vào ngày 19-3-1627 cho đến lúc Linh mục Antonio F. Cardin đến Thăng Long ngày 15-3-1631 (trong chuyến đi ấy, có các Linh mục Gasparo d'Amiral, André Palmeiro, Antonio de Fontes), tài liệu nầy gồm 2 trang rưỡi chữ, viết trên giấy khổ 16 x 23 cm, trong ấy chỉ phiên âm có mấy chữ :
Sinoa : Xứ Hóa (thuận Hóa) 
Anná : An nam 
Sai : Sãi 
Mía : Mía ( nhà tạm trú)
Những tài liệu phiên âm trên, cho chúng ta thấy phần nào sự manh nha hình thành chữ Quốc Ngữ trong các năm từ 1621 đến năm 1631. Trong mười năm đó, chúng ta thấy sự phiên âm không mấy tiến triển, chưa có sự thống nhất nào cả, chẳng hạn như danh từ xứ Hóa, họ đã phiên âm :
Sinoa (Jão Roig 20-11-1621) 
Sinua, Sinuâ, Sinoá (Antonio de Fontes 1-1-1626) 
Sinoa (Đắc Lộ 1631)
Danh từ Ông Nghè :
Omgne (Christoforo Borri 1618-1621) 
Ungne (Jão Roig 20-11-1621) 
Ongne, Ungué ( Gaspar Luis 12-12-1621) 
Unghe (Gaspar Luis 1-1-1626) 
Onghe (Antonio de Fontes 1-1-1626)

2.- Giai Đoạn Cấu Tạo Câu.

a.- Sự đóng góp của Gasparo d'Amiral

Giai đoạn kế tiếp được coi như khởi sự từ năm 1632 với những phiên âm của Gasparo d'Amiral, trong giai đoạn nầy, chúng ta thấy vai trò đóng góp cho sự hình thành chữ Quốc ngữ của Gasparo d'Amiral rất quan trọng, ông phiên âm có phương pháp. Tài liệu dẫn sau đây cho chúng ta thấy rõ Đắc Lộ đã theo phương pháp của ông để phiên âm trước khi dựa vào quyển tự điển Bồ Đào Nha - Annam cũng của ông, để Đắc Lộ soạn quyển tự vị "An Nam - Bồ Đào Nha - La Tinh "
Để hiểu rõ điều chúng tôi vừa đề cập tới, không gì hơn là chúng ta nhìn lại cuộc đời và vết đi của họ, chúng ta sẽ thấy ảnh hưởng của Gasparo d'Amiral đối với Đắc Lộ.
Gasparo d'Amiral sinh năm 1592 tại Bồ Đào Nha, gia nhập Dòng Tên ngày 1-7-1608, ông đã làm giáo sư dạy La văn, Triết học, Thần Học tại các học viện và đại học Evora, Braga, Coinbra ở Bồ Đào Nha.
Năm 1623, Gasparo d'Amiral đến Áo Môn, vào tháng 10 năm 1926, ông cùng với Thầy Paulus Saito (1577-1633 người Nhật) đến Đàng Ngoài cho đến tháng 5 năm 1630 cả hai cùng với Linh mục Đắc Lộ và Pedro Marques về Áo Môn. Ngày 18-2-1631 Gasparo cùng 3 Linh mục khác là André Palmeiro, Antonio de Fontes và Antonio F. Cardim từ Áo Môn đáp tàu Bồ Đào Nha đến cửa Bạng (Thanh Hóa) và đến ngày 15-3-1631, các Linh mục nầy mới đến Kẻ Chợ (Thăng Long).
Sau đó Linh mục Palmeiro và Fontes trở về Áo Môn còn Amiral và Cardim ở lại tiếp tục công cuộc truyền giáo tại Đàng Ngoài. Năm 1638, Linh mục Amiral được gọi về giữ chức Viện Trưởng Viện thần học tại Áo Môn, như vậy ông đã ở Đàng Ngoài được 7 năm.
Đến năm 1641, ông được cử làm Phó Giám Tỉnh Dòng Tên hai tỉnh Nhật và Trung Hoa (gồm các nước Nhật, Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, Thái Lan và Trung Hoa - Áo Môn, Quảng Đông, Quảng Tây). Năm 1645, ông đáp tàu từ Áo Môn đi Đàng Ngoài, khi tàu đến gần đảo Hải Nam bị đắm, do đó ông bị chết đuối vào ngày 23-12-1645.
Trong 7 năm ở Đàng Ngoài, Gasparo d'Amiral còn để lại 2 tài liệu liên quan đến chữ Quốc Ngữ. Tài liệu 1, ông viết bằng Bồ văn tại Kẻ Chợ vào ngày 31-12-1632 nhan đề: " Annua do reino de Annam do anno de 1632, pera o Pe André Palmeiro de Compa de Jesu, Visitator das Provincias de Japan, e China " ( Bảng tường trình hàng năm về nước An nam năm 1632, gửi cha André Palmeiro, Dòng Tên, giám sát các tỉnh Nhật và Trung Hoa). Tài liệu nầy hiện lưu trử tại văn khố Dòng Tên La Mã, trong đó có một số phiên âm như sau:
Tun kim : Đông Kinh, chỉ cho xứ An Nam 
Đàng tlão : Đàng Trong 
Đàng ngoày : Đàng Ngoài 
Đàng tlên : Đàng trên 
Oũ nghe : Ông nghè 
nhà thượng dày: nhà thượng đài 
nhà ti, nhà hién : nhà ti, nhà hiến 
nhà phũ : nhà phủ 
nhà huyẹn : nhà huyện 
oũ khơũ : Ông Khổng ( Khổng Phu Tử) 
Đức laõ : Đức Long; niên hiệu Đức Long (1629-1634) 
Vĩnh Tộ : Vĩnh Tộ; niên hiệu Vĩnh Tộ (1620-1628) 
Bua : Vua 
Tế Kì đạo : Tế kỳ đạo 
Đức vương : Đức Vương 
Chúa oũ : Chúa Ông ( tức Trịnh Tráng) 
Chúa tũ, chúa dũ, chúa quành : Chúa Tung (Trịnh Vân; Tung Quận Công) 
Chúa Dũng (Trịnh Khải; Dũng Quận Công) 
Chúa Quỳnh ( Trịnh Lệ; Quỳnh quận công) 
Chúa cả : Chúa cả (Trịnh Tạc, vào thời nầy Đàng Ngoài có 5 chúa là : Trịnh Tráng, Trịnh Tạc, Trịnh Vân, Trịnh Khải, Trịnh Lệ mà chỉ 2 chúa có quyền hành mà thôi) 
Thanh đô vương : Thanh Đô Vương 
Chúa triết : Chúa Triết (Trịnh Tùng) 
Kẻ chợ : Kẻ Chợ (Thăng Long) 
yêu nhău : yêu nhau 
oũ phô mả liêu : Ông Phò Mã Liêu (con rễ Trịnh Tráng) 
Đàng Ngoằy : Đàng Ngoài 
Quãng : Quảng 
Tàm đàng : Tàm Đàng 
Bên đoũ đa : Bên Đống Đa 
tày : Tầy 
lằng bôũ bàu : làng Bông Bầu 
Cô bệt : Cô Bệt 
Tri yếu : Tri yếu 
kẻ hằii : kẻ hầu 
ăn dương huyẹn : An Dương huyện 
coũ thằn : công thành 
Thíc ca : Thích Ca ( Phật) 
Phổ lô xã : Phổ lô xã 
Sãy uãy : Sải vải 
Hộy ăn xả : Hội An xã 
huyẹn uịnh lạy : huyện Vĩnh Lại 
Thầi uăn Chật : Thầy Văn Chật 
làng Kẻ tranh xuyên : Làng Kẻ Tranh Xuyên 
Kẻ trãng : Kẻ Trang 
Sấm phúc xả : Sấm Phúc xã 
Nghỹa ăn xả : Nghĩa An xã 
huyẹn bạyc hặc : Huyện Bạch Hạc 
thầi phù thủi : Thầy phù thủy 
Oũ jà nhạc : Ông già Nhạc 
Oũ phu mã kiêm : Ông Phò mã Kiêm 
bà : bà (?) 
chúa bàng : chúa Bằng 
thăn khê : Thanh Khê 
hàng bè : hàng Bè 
hàng bút : hàng Bút 
cữa nam : cửa Nam 
kẻ ăn lẵng : kẻ An lãng 
hàng nấm : hàng nắm 
đinh hàng : Đinh hàng 
càii iền : Cầu Yên 
hàng thuõc : hàng thuốc 
oũ đô đốc hạ : Ông Đô Đốc Hạ 
Oũ phũ mã nhăm : Ông Phò mã Nhâm 
Oũ chưỡng hương : Ông chưởng Hương 
Thầi : Thầy 
đức oũ hồe : Đức ông Huề 
thuyèn thũỉ : thuyền thủy 
Quãng liẹt xã : Quãng liệt xã 
giỗ : giỗ 
chặp : chạp 
mă : ma 
kẽ uạc : kẻ Vạc 
cỗ : cỗ 
oũ chưỡng quế : ông chưởng Quế 
tình : tình 
nhũộn : nhuận 
tháng : tháng 
cốt bõý : cốt bói 
Kẽ lăm huyẹn toũ sơn : kẻ Lâm, huyện Tống Sơn 
Nghệ an : Nghệ An 
Bố chính : Bố chính 
thuặn hốe : Thuận Hóa 
huyẹn nghi xuon : huyện Nghi Xuân 
huyẹn Thinh Chương : huyện Thanh Chương 
làng cầii : làng Cầu 
nhà nga : nhà nga 
đậii xá : đậu xá 
vàng may : Vàng May 
đức bà sang phú : đức bà sang phú 
oũ bà phủ : ông bà phủ 
kẽ mộc : kẻ Mộc 
kẽ bàng : kẻ Bàng 
an nam : An Nam
Tài liệu thứ hai cũng soạn bằng Bồ văn tại kẻ Chợ ngày 25-3-1637, có nhan đề: " Relacam dos Catequista da Christamdade de Tumk e seu modo de proceder pera o Pe Manoel Dias, Vissitador de Jappão e China " (Tường thuật về các Thầy giảng của giáo đoàn Đàng Ngoài và về cách thức tiến hành của họ, gửi cha Manoel Dias, giám sát Nhật Bản và Trung Hoa), tài liệu nầy hiện lưu trử tại Văn Khố Hàn Lâm Viện Sử Học Hoàng Gia Madrid Bồ Đào Nha. Gồm có một số phiên âm sau đây :
Sãy : Sãi 
đức : đức 
Chúa thanh đô : Chúa Thanh Đô 
thầy : thầy 
định : định 
nhin : Nhơn (tên) 
Nghệ an : Nghệ an 
lạy : lạy 
tri : Tri (tên) 
bùi : Bùi (tên) 
Quang : Quảng (tên) 
tháng : Thắng (tên) 
Coũ thàn : Công Thành 
Sướng : Sướng (tên) 
đàng ngoài : Đàng Ngoài 
già : Già (tên) 
Vó : Vó (tên) 
nân : Nân (tên) 
lồ : Lồ (tên) 
đôủ thành : Đông thành (tên) 
Kẻ chợ : Kẻ Chợ (tên)
Trong hai tài liệu nầy, tài liệu thứ nhất có gần 400 chữ phiên âm, chưa được thống nhất cách dùng mẫu tự ghi âm. Ví dụ :
Âm a ghi ă (Hội ăn xã) hay ghi a (Nghệ an) 
Âm ò ghi ô (oũ phô mả liêu) hay ũ (oũ phũ mả kiêm) 
Có một số âm, phụ âm, dấu giọng không như ngày nay : 
Các âm â ghi ă (hàng nấm) 
----------- ê - e (huyẹn, hién) 
----------- y - i (thầi) 
----------- o - õ (bõy) 
--------- âu - ăii (hầu)
Các phụ âm : ng ghi ũ (oũ) 
----------------- ch - yc (bạyc)
Các dấu giọng : ? ghi ~ (cữa nam, phũ) 
------------------- ~ - ? (Sấm phú xả, Nghỹa ăn xả)
Tuy nhiên Gasparo d'Amiral cũng ghi được các âm như ngày nay :
a (nghệ an ) ă (hàng nắm) â (thầi) 
ê ( nghệ) ô (giỗ) ơ (chợ) 
i (nghi xuôn) u (yêu nhău) ư (thương, vương)
Có đủ dấu giọng:
không dấu (nam, đô) 
� (Thíc ca) 
` (thầi phù thũi) 
? (chúa cả) 
~ (giỗ) 
. (vĩnh tộ)
Tài liệu thứ hai viết sau 5 năm, một số chữ viết ngày nay giống y như vậy: đức, chúa thanh đô, thầy, Nghệ an, lạy, định ... Do đó chúng ta thấy Gasparo d'Amiral ghi âm tiến bộ hơn các giáo sĩ khác, đó cũng là điều dĩ nhiên bởi vì từ tài liệu của Jão Roiz hay Gaspar Luis viết từ năm 1621, đến tài liệu thứ nhất của Gasparo d'Amiral có khoảng cách biệt trên 10 năm.

b.- Sự đóng góp của Linh mục Đắc Lộ.

Linh mục Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes), người được Pháp đề cao đã sáng chế ra chữ Quốc Ngữ, mang lại sự khai hóa cho dân tộc Việt Nam, với chiêu bài nầy để che đậy hành động thực dân, xâm chiếm lãnh thổ và cai trị hà khắc dân tộc chúng ta. Để hiểu rõ vấn đề nầy, chúng ta cần lướt qua tiểu sử và hành trình truyền giáo của Đắc Lộ.
Đắc Lộ sinh ngày 15-3-1591 tại Comtat Venaissin, tỉnh Avignon, miền Nam nước Pháp, tổ tiên ông gốc Do Thái. Tổ phụ của ông đã di cư từ Tây Ban Nha sang Avignon vào giữa thế kỷ XVI, thân sinh ông là Benadin II de Rhodes, được liệt vào hàng thân hào, nhân sĩ trong vùng.
Đắc Lộ gia nhập Dòng Tên ở La Mã ngày 14-4-1612, học tập chuyên về thần học và toán học tại học viện Saint André du Quirinal, thụ phong linh mục tại La Mã năm 1618. Cũng trong năm nầy, ông được phép sang Đông Nam Á truyền giáo, ông đến Lisbonne thủ đô Bồ Đào Nha, rồi từ đây đáp tàu đi Áo Môn ngày 04-4-1619, vì có ghé qua Goa (Ấn Độ) nên ông đến Áo Môn ngày 29-5-1623, ông đặt chân lên Việt Nam lần đầu tiên vào tháng 12 năm 1624 tại Đà Nẳng, cùng với các linh mục Gabriel de Mattos và một giáo sĩ Nhật.
Đắc Lộ đến cơ sở truyền giáo Thanh Chiêm thuộc Quảng Nam Dinh, nơi đây có Linh mục Francisco de Pina (sinh năm 1585 tại Bồ Đào Nha, đến Đàng Trong năm 1617 và chết đuối ở Quảng Nam năm 1625) và Antonio de Fontes (đến Đàng Trong tháng 12 năm 1624), tại đây Đắc Lộ học tiếng Việt với Francisco de Pina, tháng 7 năm 1626 ông rời Đàng Trong về Áo Môn, ngày 19-3-1627, ông cùng với Linh mục Pierre Marquez đến của Bang ( Thanh Hóa), ở đây, hai ông có yết kiến Trịnh Tráng, rồi sau đó theo chúa Trịnh ra Thăng Long, thời gian nầy hai Linh mục lập giáo đoàn Đàng Ngoài, tháng 5 năm 1630, chúa Trịnh cấm đạo, trục xuất các giáo sĩ, Đắc Lộ trở về Áo Môn.
Từ năm 1630 đến năm 1640, Đắc Lộ dạy thần học ở học viện thần học Áo Môn. năm 1640, ông được cử đến Đàng Trong làm Bề Trên, thay thế Linh mục Buzomi vừa từ trần tại Quảng Nam Dinh, ông ở đây cho đến ngày 3-7-1645, bị bắt buộc phải rời cơ sở truyền giáo Thanh Chiêm, theo lệnh của quan Cai bộ áp dụng án trục xuất các giáo sĩ của chúa Nguyễn. Kể từ đó, ông rời hẳn nước Việt Nam, trở lại Áo Môn ông dạy tiếng Việt ở Học viện Thần Học, ngày 20-12 năm 1645 ông đáp tàu từ Áo Môn đi Âu Châu, nhằm mục đích vận động thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam.
Ngày 16-11-1654,Toà thánh La Mã cử Đắc Lộ làm Bề Trên của phái đoàn truyền giáo ở Ba Tư. Đầu tháng 11-1655, ông đáp tàu từ Marseille đi Ispaham thủ đô Ba Tư, và tại đây ông đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 5 tháng 11 năm 1660.
Giai đoạn trước, giáo sĩ Đắc Lộ có để lại 3 tài liệu về chữ Quốc Ngữ vào năm 1625 và 1631 đã dẫn ở trên và giai đoạn sau nầy, ông cũng để lại 3 tài liệu khác viết vào các năm 1636, 1644, 1647.
Tài liệu năm 1634, viết tay có nhan đề: " Tunchinenois Historiae libri duo quorum altero status temporalis hujus Regni, altero mirabiles evangelicae praedications progressus refuruntur. Coeptae per Patres Societatis Jesu, ab Anno 1627 ad Annum 1636 " ( Lịch sử Đàng Ngoài và những bước tiến triển lớn lao mà phúc âm rao giảng đã làm ở nước nầy để cải hóa lương dân, từ năm 1627 đến năm 1636) Bản nầy ghi bằng La văn gồm 2 quyển, lưu trử tại Văn khố Dòng Tên ở La Mã.
Các chữ phiên âm trong quyển một.
Tung : Đông 
kin : kinh 
Annam : An Nam 
Ai nam : Hải Nam 
Chúacanh : Chúa Canh 
Che ce : kẻ Chợ (Thăng Long) 
Chúa bàng : Chúa Bàng (đúng ra là Bình; Bình An Vương Trịnh Tùng) 
Chúa õu : Chúa ông 
Chúa thanh đô : Chúa Thanh Đô ( Thanh Đô Vương Trịnh Tráng) 
uuan : vương 
min : minh 
bát min : bất minh 
thuam : thuận 
uan : văn 
uu : vũ 
gna ti : nhà ti 
gna hien : nhà hiến 
Cai phu : cai phủ 
Cai huyen : cai huyện 
Bua ; vua 
den : đền 
sin do : sinh đồ 
huan cong : hương cống 
tin si : tiến sĩ 
tam iau : tam giáo 
dạu nhu : đạo nhu (nho) 
dạu thíc ; đạo thích 
Thicca, Thic ca, Thiccả : Thích ca 
Sai : Sãi 
sai ca : Sãi cả 
lautu : Lão tử 
Giô : giỗ 
Cu hồn : Cô hồn 
ba hon : ba hồn 
Chin via : Chín vía 
dum : Đồng (tên)
Các chữ phiên âm trong quyển hai
Cửa bang : Cửa Bạng (Thanh Hóa) 
Phạt : Phật 
bụt : Bụt 
dang : Đàng 
ciiia oũ : chúa ông 
ciiia ban uuan : chúa Bằng vương 
ciii sai : chúa Sãi 
ciii canh : chúa canh 
thinh hoa : Thanh Hóa 
thai : thầy 
sai vai : Sãi Vãi 
Che vich : kẻ vích (cửa Vích, cửa sông ở phía Bắc Thanh Hóa) 
Che no : Kẻ Nộ 
Gne an : Nghệ An 
bochin : bố chính 
Rum : Rum 
kiemthuong : Kiêm Thượng 
Phuchen : Phục chân 
cà : Cà 
cã : cả 
cá : cá 
tlẽ : trẻ 
tle : tre
Tài liệu năm 1644, Đắc Lộ viết bằng Bồ văn tại Thanh Chiêm, nhan đề: " Relacão do glorioso Martirio de Andre Cathequista Protomartir de Cochinchiana alanceado, e degolado em Cachão no 26 de Julho de 1644 Tendo de Idade dezanove annos " ( Tường thuật cuộc tử đạo vinh hiển của Thầy giảng An-Rê, vị tử đạo tiên khởi ở Đàng Trong, đã bị đâm chém tại kẻ Chàm ngày 26-7-1644, tử đạo lúc 19 tuổi), tài liệu nầy có những chữ phiên âm và câu phiên âm :
Ounghebo, Oũnghebo : Ông Nghè Bộ
Giũ nghĩa cũ d chúa Jesu cho den het hoy, cho den blon doy : Giữ nghĩ cùng đức chúa Jesu cho đến hết hơi, cho đến trọn đời.
Tài liệu năm 1647, Đắc Lộ viết bằng La văn tại Macassar ngày 4-6-1647 có nhan đề : " Alexandre Rhodes è Societate jesu terra marique decẽ annorũ Itinerarium " ( Cuộc hành trình mười năm trên bộ, dưới biển của Đắc Lộ thuộc Dòng Tên), tài liệu nầy có các phiên âm như sau:
Ciam : Chàm 
Ranran : Ran ran 
Ké han : Kẻ Hàn 
On ghe bo : Ông nghè Bộ 
ke cham : kẻ Chàm 
halam : Hà Lan 
Cai tlam, Caitlam : Cát Lâm 
ben da : Bến đá 
Qui nhin : Qui Nhơn 
Nam binh : Nam Bình 
Bao bom : Bầu vom 
Quan Ghia : Quảng Nghĩa 
Nuoc man : Nước Mặn 
bau beo : Bầu Bèo (?) 
liem cum ; Liêm công 
Quanghia : Quảng Nghĩa 
Baubom : Bầu Vom 
bochinh : Bố chính 
Oũ ghe bo : Ông nghè Bộ
Sau khi đối chiếu tiểu sử của Gasparo d'Amiral và Đắc Lộ cùng các tài liệu phiên âm như trên, chúng ta có nhận định sau :
1) Linh mục Gasparo d'Amiral phiên âm có tự dạng gần với chữ Việt chúng ta viết ngày nay, hơn là các phiên âm của Đắc Lộ, thử so sánh :
Tài liệu Gasparo d'Amiral 1632 : Tài liệu Đắc Lộ 1636
----------------- Thanh đô vương -------- thanh đô 
----------------- Nhà ti --------------------- gna ti 
----------------- Nhà hién ----------------- gna hien 
----------------- Nghệ ăn, nghệ an ------ Gne an 
----------------- Bố chính ----------------- bochin
2) Gasparo d'Amiral phân biệt được một số dấu giọng như đã vạch ra ở phần trước, trong khi Đắc Lộ lại ít dùng dấu giọng.
3) Ngay trong cách phiên âm của Đắc Lộ, tài liệu sau phiên âm kém hơn tài liệu trước. Trái lại, Gasparo d'Amiral phiên âm tài liệu năm 1637 khá hơn tài liệu năm 1632.
Năm 1632, bảng tường trình của Gasparo d'Amiral gửi cho Linh mục André Palmeiro, giám sát các tỉnh Nhật, trung Hoa lúc đó Đắc Lộ cũng ở tại Áo Môn (1630-1640), là người tha thiết với các giáo đoàn truyền giáo tại Việt Nam, chắc chắn Đắc Lộ có xem qua bảng tường trình nầy.
Từ năm 1638-1645 Gasparo d'Amiral ở tại Áo Môn, như vậy họ đã có thời gian ở bên nhau 2 năm 1638-1640, rồi tháng 7 năm 1645 đến 20-12-1645 Đắc Lộ từ Việt Nam trở lại Viện Thần Học Áo Môn, phụ trách dạy tiếng Việt, còn Gasparo d'Amiral đã soạn quyển Tự vựng Việt La, như vậy cả hai có thêm thời gian ở bên cạnh nhau, lại cùng hoạt động chung bộ môn tiếng Việt, điều đó cho ta thấy chắc chắn Đắc Lộ có chịu ảnh hưởng của Gasparo d'Amiral về lãnh vực tiếng Việt.
Tài liệu Đắc Lộ viết năm 1647 tại Macassar, chứng tỏ rằng sau khi ông rời Việt Nam ngày 20-12-1645, ông vẫn chưa có được một hệ thống phiên âm vững chắc và gần gủi với chữ Quốc ngữ ngày nay.

c.- Sự đóng góp của Linh mục Antonio Barbosa

Antonio sanh năm 1594 tại ville de Arrifana de Sonza, Bồ Đào Nha, gia nhập Dòng Tên vào ngày 13-3-1624. Năm 1629, ông được cử đến truyền giáo ở Đàng Trong và đến tháng 4 năm 1636, ông có đến Đàng Ngoài truyền giáo. Cho đến tháng 5 năm 1642, vì lý do sức khỏe, ông phải trở về Áo Môn tịnh dưỡng. Cũng do tình trạng sức khỏe không tốt nên sau một thời gian tịnh dưỡng, ông rời Áo Môn đi Goa và ông đã từ trần trên đường đến Goa năm 1647.
Mặc dù ngày nay Antonio không có để lại tài liệu Quốc ngữ nào, nhưng Đắc Lộ đã cho biết : " Tôi lợi dụng công việc của các giáo sĩ khác cũng thuộc Dòng Tên, nhất là của Gasparo d'Amiral và Antonio Barbosa. Cả hai ông nầy, mỗi ông đều làm một cuốn tự điển. Ông Gasparo d'Amiral làm cuốn Annamiticum - Lusitanium; ông Antonia Barbosa làm cuốn Lusitanum - Annamiticum. Nhưng tiếc rằng cả hai ông đều chết sớm. Tôi lợi dụng công việc của cả hai ông viết ra cuốn tự điển mới, có chua thêm tiếng La tinh, mục đích để giúp người bản xứ học tiếng La tinh theo lệnh của các đức hồng y." ( 4 )

d.- Sự đóng góp của người Việt

Dù sao, khởi thủy chữ Quốc ngữ hình thành cũng nằm trong mục đích chánh là phương tiện truyền giáo cho các giáo sĩ thuộc Dòng Tên ở Việt Nam. Bên cạnh các giáo sĩ, giáo dân Việt Nam thời đó không nhiều thì ít cũng có đóng góp trong lúc hai linh mục Gasparo và Antonio soạn hai quyển tự điển của họ, điều đó tuy không có chứng cứ, nhưng theo suy luận hợp lý, cho phép chúng ta tin như vậy.
Ngoài ra trong thời kỳ nầy còn có tài liệu của 14 giáo dân Việt Nam ghi bằng chữ Quốc ngữ, về việc họ xác nhận tán đồng ý nghĩa mô thức rửa tội, do 31 linh mục Dòng Tên thảo luận ở Viện Thần Học tại Áo Môn năm 1645
Tài liệu nầy là một bản La văn do các linh mục Dòng Tên soạn, để trả lời cho Linh mục Sebastião de Jonaya, nhan đề: " Cirra formam Baptismi Annamico Idiomate prolatam' ( Chung quanh mô thức rửa tội bằng thổ ngữ An Nam). Phần chữ Quốc ngữ của 14 giáo dân Việt Nam ghi như sau:
" Nhin danh Cha uà con uà Su-phi-ri-to-sang-to í nài An-nam các bỏn đạo thì tin ràng ra ba danh ví bàng muốn í làm một thì phải nói nhin nhít danh cha etc.- tôy là Giu ão câi trâm cũ nghi bậi - tôy là An re Sen cũ nghi bậi - tôy là Ben tò vẫn triền cũ nghi bậi - tôy là Phe ro uẫn nhit cũ nghi bậi - tôy là An jo uẫn tãu cũ nghi bậi - tôy là Gi-ro-ni-mo cũ nghi bậi - tôy là I-na sô cũ nghi bậi - tôy là tho-me cũ nghi bậi - tôy là Gi-le cũ nghi bậi - tôy là lu-i-si cũ nghi bậi - tôy là Phi-lip cũ nghi bậi - tôy là Do-minh cũ nghi bậi - tôy là An-ton cũ nghi bậi - tôy là Giu ão cũ nghi bậi " ( nhân danh Cha và con và Su-phi-ri-to Sang-to Spirito Santo ý nầy An nam các bổn đạo thì tin rằng ra ba danh. Ví rằng muốn ý làm mộy thì phải nói : nhân danh Cha vân vân. Tôi là Giu an Cai (?) Trâm cũng nghĩ vậy - Tôi là An rê Sen cũng nghĩ vậy - Tôi là Ben tô Văn Triều cũng nghĩ vậy - Tôi là Phê rô Văn Nhất cũng nghĩ vậy - Tôi là An gio Văn Tang cũng nghĩ vậy - Tôi là Gi-rô-i-mô cũng nghĩ vậy - Tôi là Gi le cũng nghĩ vậy - Tôi là lu-i-si cũng nghĩ vậy - Tôi là Phi líp cũng nghĩ vậy - Tôi là Đô Minh cũng nghĩ vậy - Tôi là An ton cũng nghĩ vậy - Tôi là Giu an cũng nghĩ vậy).
Như thế, chúng ta thấy rõ đây là một bản văn Quốc ngữ của 14 người Việt Nam xác nhận mô thức rửa tội năm 1645 của các linh mục Dòng Tên và đây là tài liệu cho chúng ta thấy sự đóng góp của người Việt Nam trong tiến trình hình thành chữ Quốc ngữ.
Qua so sánh, chúng ta có thể thấy rằng chữ Quốc ngữ năm 1645 chỉ giống chữ viết ngày nay khoảng 45%, và thời kỳ sáng tạo chữ Quốc ngữ khởi đầu từ năm 1621 đến đây đã chấm dứt, để chuyển sang thời kỳ kế tiếp.
Tưởng cũng nên nhắc lại, từ khi khởi đầu phiên âm cho đến khi hình thành chữ Quốc ngữ, không phải là sự ngẫu nhiên, bởi vì giáo đoàn truyền giáo Dòng Tên trước đó đã hoàn tất việc việc La tinh hóa chữ Nhật, để truyền giáo tại Nhật Bản. Nhật Bản cũng như Việt Nam ta, thuở đó mỗi nước đều có chữ Quốc ngữ biến chế từ chữ Hán, nước ta gọi là chữ NÔM, muốn biết chữ Nôm, đòi hỏi người ta phải am tường chữ Hán, chữ Hán vốn đã khó học rồi thì chữ Nôm lại càng khó hơn, chính vì thế mà các linh mục đã La tinh hóa chữ viết của Nhật cũng như Việt Nam, để cho công việc truyền giáo của họ được dễ dàng hơn.
* 

II. Thời Kỳ Xây Dựng
1. Khái Quát.

Theo tiến trình hình thành chữ Quốc ngữ, cho đến khi quyển Dictionarium Annamaticum Lusitinum et Latinum của Alexandre de Rhodes được in tại La Mã năm 1651, chữ Quốc ngữ đã bước sang giai đoạn mới. Giai đoạn nầy bắt đầu từ công trình của hai Linh mục Antonio Barbosa và Gasparo d'Amiral khi hai ông biên soạn Dictionarium Lusitanum - Annamaticum và Annamiticum - Lusitanum nhưng cả hai quyển nầy ngày nay chưa được khám phá.
Các nhà nghiên cứu cho rằng hai quyển tự điển vừa kể, có thể đã bị thất lạc do các cuộc di chuyển văn khố Dòng Tên từ Áo Môn qua Manila khoảng năm 1759-1760, và sau đó nhà cầm quyền Tây Ban Nha tịch thu các tài liệu ở văn khố Dòng Tên tại Manila vào khoảng năm 1770 đem về Madrid, nên ngày nay không tìm thấy vết tích 2 quyển tự điển nầy ở Áo Môn, Manila và ở Madrid cũng không tìm thấy chúng.
Linh mục Thanh Lãng có cho biết tại Tòa Thánh La Mã hiện có 2 cuốn tự điển do Linh mục Philipphé Bỉnh sao lục, không đề tên tác giả, đó là quyển : Dictionarium Annamiticum - Lusitanum ký hiệu Borg Touch 23 dầy 288 trang và Dictionarium Lusitanum - Annamiticum ký hiệu Touch 23 dầy 324 trang.
Philipphé Rosario Bỉnh sanh tại Hải Dương năm 1759, vào chủng viện năm 1775. Được phong Thầy Cả sau khi mãn khóa học.
Ngày 20-6-1796, ông đến Lisbonne thủ đô Bồ Đào Nha, tại đây ông theo dõi tình hình giáo hội và sáng tác gồm 23 tác phẩm gồm Bồ văn, La Tinh, Nôm và Quốc ngữ, trong số ấy có tác phẩm " Truyện An-nam Đàng ngoài chí Đàng trão ". Ông mất tại Lisbonne năm 1832.
Căn cứ vào công trình của Philipphé Bỉnh, vào những điều của Linh mục Thanh Lãng cho biết, chúng ta có thể đi đến kết luận là quyển Dictionarium Annamiticum - Lusitanum của Gasparo d'Amiral và Dictionarium Lusitanium - Annamiticum của Antonio Barbosa đều có ở tại Lisbonne nơi mà Philipphé Bỉnh đã ở và làm việc, nên ông đã sao chép lại quyển tự điển, nó cũng chứng tỏ rằng Linh mục Đắc Lộ đã mang 2 quyển sách trên từ Áo Môn về Âu châu, có lẽ trước tiên ông định in 2 quyển tự điển nầy, về sau ông đã dựa vào đó soạn và in ra quyển Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum, nên 2 quyển tự điển kia không cần thiết phải in nữa.
Chọn năm 1651 là năm đánh dấu sự hoàn tất công trình điển chế chữ Quốc ngữ, nhằm mục đích làm phương tiện truyền giáo của các giáo sĩ Tây Phương, bởi vì chẳng những quyển tự điển Dictionarium Annamiticum Lusitinum et Latinum được in mà còn có quyển " Cathéchismus " (Phép giảng tám ngày), cũng được in trong năm nầy.

2. Thời kỳ soạn thảo quyển tự điển An Nam - Bồ Đào Nha - LaTinh

Cho đến nay, chưa có tài liệu nào công bố thời gian và địa điểm Đắc Lộ đã soạn quyển Dictionarium Annamiticum Lusitinum et Latinum. Theo đoạn văn trích dịch ở trên, chúng ta biết rằng Đắc Lộ soạn quyển tự điển nầy dựa vào công trình hai quyển tự điển của Gasparo d'Amiral và Antonio Barbosa.
Nhưng công trình của 2 linh mục nầy không được in ra, chưa tìm thấy bản gốc, cũng chưa tìm thấy tài liệu nào cho biết thời gian biên soạn hay hoàn tất của chúng, để từ đó có thể giúp chúng ta xác định thời gian Linh mục Đắc Lộ soạn quyển tự điển của ông. Đặt ra vấn đề nầy để xác nhận thời điểm, trong những giai đoạn của tiến trình hình thành chữ Quốc ngữ.
Theo vết chân của Đắc Lộ, chúng ta biết ông có thể soạn quyển tự điển, trong khoảng năm 1630-1640 là thời gian ông dạy thần học ở Học viện thần học tại Áo Môn. Nhưng mà thời gian nầy không chắc Linh mục Antonio Barbosa đã soạn xong quyển Tự điển Bồ Đào Nha - An Nam, vì thời gian 1620-1642 ông đang truyền giáo Đàng Trong rồi Đàng Ngoài, thời gian nầy Linh mục Antonio học hỏi tiếng Việt, và từ năm 1642 đến năm 1647 ông có ở Áo Môn để dưỡng bệnh, có lẽ thời gian nầy Linh mục Antonio đã biên soạn và hoàn tất quyển tự điển của mình trước tháng 12 năm 1645.
Còn Linh mục Gasparo d'Amiral sau thời gian ở Đàng Ngoài 7 năm, từ năm 1638-1645 ông ở tại Áo Môn giữ chức Viện trưởng Viện thần học kiêm Phó Giám Tỉnh Nhật và Trung Hoa, chắc chắn thời gian nầy ông đã phối hợp với Linh mục Antonio Barbosa để biên soạn và hoàn tất quyển tự điển An Nam - Bồ Đào Nha.
Tóm lại các quyển tự điển An Nam Bồ Đào Nha và Bồ Đào Nha An Nam được soạn trong khoảng 1638-1645. Vì năm 1645, Linh mục Gasparo bị đắm tàu chết đuối và trước đó ít hôm, Linh mục Đắc Lộ đã rời Áo Môn trở về Âu Châu, chúng ta lại biết thêm rằng, thời gian từ 3-7-1645 đến 20-12-1645 là thời gian cả 3 linh mục Đắc Lộ, Gasparo d'Amiral và Antonio Barbosa đều có mặt tại Thần Học Viện ở Áo Môn, chắc chắn họ đã có quyết định giao cho Đắc Lộ mang 2 quyển tự điển của họ về nhà in của Bộ Truyền giáo ở La Mã để in, cho nên ngày nay bản gốc 2 quyển tự điển trên không tìm thấy ở Áo Môn, Manilia hay Tây Ban Nha.
Linh mục Đắc Lộ rời Áo Môn ngày 20-12-1645, và đến La Mã ngày 27-6-1649, có lẽ thời gian nầy ông bắt đầu soạn quyển Tự điển An Nam - Bồ Đào Nha - La Tinh, nhằm mục đích để cho các Linh mục truyền giáo ở Việt Nam được dễ dàng hơn. Ý ấy đã được các Hồng y chấp thuận như ông đã ghi ở bài tựa quyển Tự điển.
Vậy thời điểm Đắc Lộ soạn quyển Dictionarium Annamaticum Lusitinum et Latinum là khoảng năm 1645- 1649, và ngày 5-2-1651 quyển nầy được Linh mục F. Piccolomineus Bề Trên Cả Dòng Tên cho phép xuất bản. Và sau đó quyển Cathéchismus được soạn trong khoảng năm 1649 - 1651, cuốn nầy được Linh mục L. M. Gosswinus Nickel quyền Bề Trên Cả cho phép xuất bản ngày 8-7-1651, nó đóng vai trò quan trọng trong công cuộc truyền giáo, nên trong phiên họp các Hồng Y và giáo chủ ngày 2-10-1651 đã quyết định ra lệnh cho nhà in của Bộ Truyền giáo ngưng in các ấn phẩm khác, để nhanh chóng in cho xong quyển Cathéchismus.

3. Nội Dung Quyển Dictionarium Annamaticum et Latinum

Quyển sách nầy trừ lời tựa, nó được chia thành ba phần chính:

a. Phần I. Linguae Annamaticae seu Tunchinensis brevis declaratio ( tức là phần Ngữ Pháp Việt Nam 
được soạn bằng La văn gồm 31 trang, chia thành 8 chương:
Chương I .- De literis et syllabis quibus hase lingue constat (chữ và vần trong tiếng Việt) 
Chương II.- De Accentibus et aliis signis in vocalibus dấu nhấn và các dấu) 
Chương III.- De Nominibus (Danh từ) 
Chương IV.- De Pronominibus (Đại danh từ) 
Chương V.- De Aliis Pronominibus (các Đại danh từ khác) 
Chương VI.- De Verbis (Dộng từ) 
Chương VII.- De Reliquis oratiomis indeclinabilibus (những phần bất biến) 
Chương Chót.- Pracepta quacdam ad syntaxim pertinentia (cú pháp)

b. Phần II. Dictionarium Annamiticum seu Tunchinense cum lusiatna, et latina declaratione.

Phần nầy không đánh số trang, chỉ đánh số cột, mỗi trang chia làm 2 cột, có tất cả 900 cột, nhưng từ mẫu tự nọ sang mẫu tự kia thường để một vài trang giấy trắng. Chúng ta cũng nên chú ý, mẫu tự b (phụ âm v ngày nay, vì có tự dạng gần giống như mẫu tự b, nên được xếp tiếp sau mẫu tự b)
Mỗi chữ Việt được giải nghĩa theo thứ tự chữ Bồ rồi mới đến chữ La tinh.

c. Phần III. Index Latini sermonis. 

Phần nầy mỗi trang chia làm 2 cột, không có ghi số trang và số cột, nhưng có tất cả 350 cột, tức là 175 trang. Trong mỗi cột, tác giả liệt kê các chữ La tinh, bên cạnh mỗi chữ có ghi số cột của chữ La tinh ấy ở Phần II. Như vậy người biết chữ La tinh sẽ tra cứu được chữ Việt tương ứng.
Sau khi biết khái quát về quyển tự điển nầy, chúng ta có những nhận định sau đây :
* Công trình điển chế Việt ngữ của Đắc Lộ chẳng những đã hệ thống hóa phương pháp ghi âm ngôn ngữ Việt Nam mà còn là một tác phẩm căn bản, để từ đó Việt ngữ được hợp lý hóa các âm thể như ngày nay.
* Dù sao thì công trình của Đắc Lộ cũng chỉ nhằm giúp những người biết chữ La tinh hay Bồ Đào Nha học Việt ngữ, Đắc Lộ không có công trình nào nhằm vào sự phổ biến chữ Quốc ngữ nầy cho người Việt, cũng vì thế mà từ 1651 đến 1866, hơn 2 thế kỷ chữ Quốc ngữ chỉ được phổ biến giữa các giáo sĩ và một ít giáo dân mà thôi.
* Cho đến khi quyển " Chuyện Đời Xưa " của Trương Vĩnh Ký ra đời năm 1866, vẫn còn ghi ở lời Tựa "... cùng là có ý cho người ngoại quốc muốn học tiếng An Nam, coi mà tập hiểu cho quen. "Điều nầy đủ chứng tỏ chữ Quốc ngữ trước đó, có mục đích giúp cho người ngoại quốc học tiếng Việt.
* Ngày nay mộ

Thứ Ba, 22 tháng 7, 2014

NỖI NHỚ




Ta đi vào nỗi nhớ
Tìm lại giấc mơ xưa
Nhiều cuộc tình ngang trái
Hồn ta bổng dật dờ

Đêm Thu nghe ớn lạnh
Heo may gió gọi  về
Tên nhiều người phụ nữ
Đã cùng ta đam mê

Một thời yêu cuồng dại
Quên đi cả tháng ngày
Giống  như con bò mộng
Thấy vải hồng hăng say

Cắm đầu vào hút mãi
Mặc thân xác mệt nhoài
Vào đôi sừng cùn  nhọn
Không đở nỗi  đòn roi

Ta đi vào nỗi nhớ
Kỷ niệm tháng năm xưa,
Thời  yêu đương trác tuyệt,
Con đường tình trăng mơ.

Giờ đây không còn nữa
Ta chiếc bóng  dật dờ,
Đau sầu thương dĩ vãng
Đời người sớm tiêu tan.

Hà Đình Huy




QUÊN ... LÀ ĐỂ...

Anh Hà Đình Huy mến,
Được 1 người bạn kể lại chuyện tình của anh và gởi những bài thơ của anh cho đọc. Xúc động, xin được phép làm 1 bài thơ con cóc tặng anh.
Quên là hết là xua đi tất cả
Những âu lo phiền muộn lẫn sầu vương
Thưở yêu em anh thấm thía nhiều điều
Hai thứ tóc chưa một lần trãi nghiệm.

Trả em về những tính toan đáng sợ
Những dối gian ghém gói bởi nụ cười
Đời hư vô em giữ được gì đâu?!
Có chăng chỉ ánh mắt nhìn khinh bỉ.

Một ngày kia em với đầu nhìn lại
Nỗi muộn màng tiếc nuối sẽ dâng cao
Bởi có thời ruồng rẫy một tình yêu
Không sang giàu nhưng yêu em say đắm.

Anh quên hết tình anh sang trang mới
Giữa giao thời hạ đến xuân đi
Anh khát khao một bóng hình chung thủy

Sáng rực lên trước điên loạn đồng tiền.

Hung Bao Pham

Thứ Năm, 19 tháng 6, 2014

Cảm Tạ Miền Nam




Đã từ lâu, tôi có điều muốn nói
Với Miền  Nam , miền đất mới thân quen
Một lời cảm ơn tha thiết chân tình
Của Miền Bắc, xứ ngàn năm văn vật.



Tôi còn nhớ sau cái ngày "thống nhất"
Tôi đã vào một
 xứ sở thần tiên
Nếp sống
 văn minh, dân khí dịu hiền
Cơm áo
 no lành, con người hạnh phúc.



Tôi đã ngạc nhiên với lòng thán phục
Mở mắt to
 nhìn nửa nước anh em
Mà đảng bảo là bị lũ nguỵ quyền
Áp bức, đoạ đày, đói ăn, khát uống.



Trước mắt tôi, một Miền  Nam  sinh động
Đất nước con người
 dân chủ tự do
Tôi đã khóc ròng đứng giữa thủ đô
Giận đảng giận đoàn bao năm phỉnh gạt.



Sinh ra lớn lên sau bức màn sắt
Tôi chẳng biết gì ngoài bác, đảng "kính yêu"
Xã hội
 sơ khai, tẩy não, một chiều
Con người nói năng như là
 chim vẹt.



Mở miệng ra là: "Nhờ ơn bác đảng
Chế độ ta ưu việt nhất hành tinh
Đuốc soi đường chủ nghĩa Mac Lenin
Tiến nhanh tiến mạnh lên thiên đường vô sản."



Hai mươi mốt năm trên đường cách mạng
Xã hội
 thụt lùi người kéo thay trâu
Cuộc sống xuống thang tính bằng tem phiếu
Nhân phẩm con người chẳng khác bèo dâu.



Cảm tạ Miền  Nam  phá màn u tối
Để tôi được nhìn ánh sáng văn minh
Biết được nhân quyền, tự do dân chủ
Mà đảng từ lâu bưng bít dân mình.



Cảm tạ Miền  Nam  khai đường chỉ lối
Đưa tôi trở về tổ quốc thiêng liêng
Của Hùng Vương, quốc tổ giống Rồng Tiên
Chớ không là Cac Mac và Le nin ngoại tộc.



Cảm tạ Miền nam mở lòng khai sáng
Đưa tôi hội nhập cùng thế giới năm châu
Mà trước đây tôi có biết gì đâu
Ngoài Trung quốc và Liên xô đại vĩ



Cảm tạ Miền  Nam  đã một thời làm chiến sĩ

Chống lại Cộng nô cuồng vọng xâm lăng
Hầu giúp cả nước thoát bầy ác quỷ
Dù không thành công cũng 
.đã thành nhân


Phan Huy

NGÀY TRUYỀN THỐNG CẢNH SÁT QUỐC GIA 1 – 6.




Chủ nhật ngày 1tháng  6 năm 2014, tại hội trường trường Trung học Yerba Buna. Hội ái Hữu CSQG, Hội Ái Hữu Học Viện CSQG và Quỹ Tương Tế CSQG Bắc Cali đẽ tổ chức long trong ngày Truyền Thống CSQG.
Tham dự ngày Truyền Thống phần lớn là các chiến hữu CSQG , gia dinh và các than hữu. Ngoài ra còn có các Hội Đoàn, đoàn thể quốc gia trong vùng Bắc Cali.
Phía các chiến hữu CSQG nhận thấy có cựu Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình cựu Tư Lệnh CSQG Việt Nam Cộng Hoà, Tiến Sĩ Trần An Bài, cựu Thẩm Phán kiêm giảng sư Học Viện CSQG, Luật sư Nguyễn Duy Tiếp cố vấn luật pháp Hội. và các chiến hữu Cảnh Sát bên Tổng Hội như các ông Phan Quang Nghiệp, Phạm tấn Ngọc, Đỗ Kiến Mười…..
Mở đầu chương trình nghi thức chào cờ và hát quốc ca Hoa Kỳ và VNCH, do sư điều khiển của chiến hữu Nguyễn Ngọc Thuỵ. Tiếp theo phần giới thiệu quan khách do chiến hữu Thái văn Hoà đảm trách. Sau phần giới thiệu quan khách. Chiến hữu Thái văn Hoà giới thiệu thành phần MC chính của buổi lễ, đó là các chiến hữu: Thái văn Hoà, Nguyễn Ngọc Thuỵ và Duy Văn
Lễ niệm hương trước bàn thời tổ quốc được diễn ra với Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình, cùng 3 vị chủ tịch của 3 tổ chức CSQG địa phương là các ông Nguyễn Ngọc Thuỵ, Lê văn Thuỵ và Nguyễn Tấn Lực.Sau nghi thức niệm hương và được sự giới thiệu của chiến hữu Thái văn Hoà , chiến hữu Lê văn Thuỵ đương kiêm Hội trưởng  đã đọc lời chào mừng đồng thời cũng tuyên bố hết nhiệm kỳ làm Hội trưởng.
Một ban bầu cử được hình thành với chủ toạ đoàn tiến sĩ Trần an bài, Luật sư Nguyễn Duy Tiếp, chiến hữu Trần Bửu Giao....điều khiển chương trình bầu chủ tịch Hội Ái Hữu CSQG bắc Cali mới. Hai chiến hữu được đền cử là chiến hữu Thái văn Hoà và Lê Văn Thuỵ. Kết quả chiến hữu Lê văn Thuỵ đã tái đắc cử chủ tịch Hội với nhiệm kỳ là 3 năm thay vì hai năm nhưn trước đây.chiến hữu Lê văn Thuỵ đã hứa sẽ làm tròn nhiệm vụ trong giai đoạn tới.
Trước đó trong phần phát biểu, Ngày truyền thống , cựu Tướng Nguyễn Khắc Bình đã nói nên tính truyền thống và sức mạnh cũng như khả năng của ngành CSQG thời gian chiến tranh Quốc – Cộng . Lục lượng CSQG đã làm cho địch quân , nhất là các cán binh cộng sản nằm vùng điêu đứng, và đã giữ được an bình cho dân chúng trong vòng 20 năm trong hai thể chế Đệ nhất và Đệ nhị Cộng Hoà. Và sau khi miền nam bị bức tử nhiều chiến sĩ CSQG đã liều thân tuẩn tiết hoặc hy sinh tập thể giữ khí tiết của người CSQG /VNCH thà chết không để rơi vào tay giặc.trong số đó có Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Trung Tá Nguyễn văn Long, Chuẩn Tướng Bùi văn Nhu, …..
Trong phần tường trình thành tích của Quỹ Tương Tế CSQG, chiến hữu Nguyễn Ngọc Thuỵ Chủ tịch Ban Điều Hành đã tường trình rõ rang những chi tiết lien quan của Qu4y Tương Tế đến các chiến hữu là hội viên.
Phần quan trong trong buổi lễ là bài nói chuyện của Tiến sĩ Trần An Bài về đề tài : Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia còn chống cộng đến bao giờ nữa?
Theo Tiến sĩ Trần An Bài: “Chúng ta phải chống Cộng cho tới khi nào Cộng Sản chết!” (xin đính kèm bài nói chuyện)
 Kính thưa Đại Diện Các Hội Đoàn,

Kính thưa quý Niên Trưởng và Quý Vị thuộc Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia (CSQG)/VNCH,

Hôm nay, ngày 1-6-2014, tất cả chúng ta hiện diện nơi đây theo lời mời của Ban Tổ Chức thuộc Lực Lượng CSQG/Bắc Cali để chào mừng Ngày Truyền Thống CSQG. Ngày Truyền Thống là ngày gì? Đó là ngày Tổ Quốc tri ân những hy sinh của Lực Lượng CSQG và quan trọng hơn, đó là ngày Lực Lượng này kiểm điểm công tác để rút ưu khuyết điểm trong việc phục vụ đất nước và đồng bào. Từ sau biến cố 30-4-1975, Ngày Truyền Thống cũng vẫn được liên tục tổ chức tại hải ngoại, nhưng mang một ý nghĩa khác. Đó là Lực Lượng CSQG cùng với các Hội Đoàn, Đoàn Thể QG khác quyết tâm xây dựng một Cộng Đồng Người Việt hải ngoại vững mạnh để giải thể chế độ Cộng Sản Việt Nam (CSVN). Đặc biệt năm nay, trong không khí ảm đạm Quê Hương VN đang bị Tàu Cộng xâm chiếm, Ngày Truyền Thống đã không có tiệc tùng, rượu bánh, có ý để mọi người chúng ta cùng chia sẻ những xót xa với đồng bào bên quê nhà đang đội mưa, đội nắng đi biểu tình chống Trung Cộng cướp nước, nhưng lại bị CSVN thẳng tay đàn áp. Và đó cũng là lý do hôm nay, tôi được đứng đây nói đôi lời tâm sự với Quý Vị.

Tôi biết rằng Lực Lượng CSQG rất đau buồn khi Ngày Truyền Thống không được tổ chức tại Bộ Tư Lệnh CSQG đường Trần Hưng Đạo, Saigon hay tại Học Viện CSQG Thủ Đức, mà lại tổ chức tại San Jose, Hoa Kỳ. Đó là vì chúng ta không chấp nhận chế độ Cộng Sản, nên chúng ta phải bỏ nước đi tỵ nạn chính trị. Mặc dầu thế giới đã khai tử Cộng Sản rồi, nhưng thật bất hạnh, quái thai này vẫn còn đang sống sót tại 4 quốc gia, trong đó, có Việt Nam. Đến nỗi, Đức TGM Ngô Quang Kiệt đã nói thẳng vào mặt những đảng viên CSVN trong cuộc họp với Ủy Ban Nhân Dân Thủ Đô Hà Nội rằng Ngài rất xấu hổ mỗi khi cầm quyển sổ thông hành mang tên “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”.

Chúng ta - những người Quốc Gia - bắt đầu chống Cộng từ ngày Hồ Chí Minh nhận chỉ thị của Cộng Sản quốc tế đem chủ thuyết Cộng Sản về áp đặt trên đất nước VN từ năm 1930. Trong suốt chiều dài lịch sử 84 năm chống Cộng, bao nhiêu chiến sĩ đã lần lượt ra đi, và rồi cũng sẽ đến lượt chúng ta nữa. Trong khi đó, Đảng CSVN vẫn ngang nhiên khống chế Quê Hương VN yêu dấu. Cho nên, tôi mới tự hỏi: “Cộng Đồng Người Việt QG còn phải tiếp tục chống Cộng tới bao giờ nữa?”

 
A.   CHỐNG CỘNG ĐẾN BAO GIỜ?

Kính thưa Quý Vị,

Nhân Ngày Truyền Thống CSQG năm nay, chúng ta hãy bình tâm ít phút để hỏi mình và hỏi nhau:
- Có phải từ năm 1930 cho tới năm 1975, mọi người chúng ta đã cầm súng quyết liệt chống Việt Cộng. Thưa, phải không Quý Vị?
- Có phải từ năm 1975 đến giờ, chúng ta vẫn còn đang tiếp tục chống Cộng tại hải ngoại. Thưa, phải không Quý Vị?

Vâng, đúng thế, chúng ta đã chống Cộng và chúng ta vẫn còn đang chống Cộng. Chống mãnh liệt. Nhưng một câu hỏi kế tiếp mà chúng ta không dễ dàng tìm ra câu trả lời. Đó là: “Chúng ta sẽ còn phải tiếp tục chống Cộng cho tới bao giờ nữa?”

Trước khi tìm ra câu trả lời, chúng ta cần nhớ rằng chống Cộng là một nhiệm vụ lịch sử của mỗi người Việt Quốc Gia. Khi nói đến lịch sử là phải nói đến thời gian, mà lịch sử của một dân tộc kéo dài từ thế hệ này qua thế hệ khác, chứ không phải ngắn gọn vào đời sống của một cá nhân. Cha ông chúng ta đã phải trường kỳ chiến đấu, phải chống giặc ngoại xâm cả trăm năm, cả ngàn năm. Còn việc chống Cộng của thế hệ chúng ta mới chỉ có 84 năm. Tôi thiết nghĩ chưa phải là một thời gian quá dài.

Từ đó, tôi tìm ra câu trả lời cho vấn nạn: “Người Quốc Gia sẽ còn chống Cộng tới bao giờ?” Câu trả lời ngắn gọn, dứt khoát là: “Chúng ta phải chống Cộng cho tới khi nào Cộng Sản chết!” Sẽ có người hỏi: Nếu chúng ta chết mà Đảng CSVN chưa chết thì sao? Thưa, không sao cả. Thế hệ này qua đi mà CSVN chưa chết thì thế hệ sau sẽ tiếp tục chống, chống cho tới khi nào CSVN chết mới thôi.

Có nhiều lý do dẫn tới cái chết của Đảng CSVN: Nó chết vì người quốc gia khai tử nó. Cũng có thể nó chết vì các đảng viên đấm đá nhau. Nó cũng có thể chết vì quan thày Trung Cộng khai tử nó.

Lý thuyết là như vậy, nhưng thực tế, tôi có lý do để tin rằng: CSVN sắp chết rồi. Theo quy luật của Trời Đất, trước khi một người, một sinh vật hay một đảng chính trị chết thì phải có thời gian hấp hối. Bằng chứng mới nhất báo hiệu tình trạng hấp hối của Đảng CSVN xảy ra đúng vào ngày 1-5-2014, Trung Cộng đem dàn khoan Hải Dương 981 vào hải phận VN, không phải để khoan dầu, vì ở đó không có dầu, mà là để đào mồ chôn Đảng CSVN tại đó.

Tại sao tôi dám nói như thế? Vì nhờ cái dàn khoan này mà bộ mặt bán nước của Hồ Chí Minh, của Phạm Văn Đồng, của Đảng CSVN đã rõ như ban ngày. Chính cái Đảng CS này thú nhận đã bán đất, bán biển để đổi vũ khí của Trung Cộng để giết hại đồng bào và bức tử chính thể VNCH.

Và ở đâu cũng vậy, những quân bán nước thì trước sau gì cũng bị nhân dân vùng lên xử tội thôi.


 
Điều chúng tôi muốn gửi tới đồng bào yêu nước ở quốc nội là muốn chống Trung Cộng, trước tiên phải dẹp bỏ chướng ngại vật, tay sai của Tàu Cộng là Đảng CSVN. Chúng chỉ có cái tên khoe mẽ: Hùng-Dũng-Sang-Trọng, nhưng thực chất là Hèn-Dốt-Sai-Trật.” (Tiến sĩ TRẦN AN BÀI)


 
B.   VẤN ĐỀ THỜI SỰ: CHỐNG VIỆT CỘNG và TÀU CỘNG

Trong những ngày qua, nhiều ý kiến, nhiều giải pháp, nhiều lời kêu gọi từ quốc nội đến hải ngoại đã đưa ra, nhằm chỉ đường cho Đảng CSVN chống Trung Cộng. Nhưng giải pháp nào thì cũng đưa tới cái chết của CSVN. Tôi xin bàn về một số giải pháp được nhiều người đề cập tới:

1. Giải pháp quân sự: Giặc vào nhà, đàn bà cũng phải đánh. Dân chúng đã nổi lên biểu tình chống Trung Cộng, nhưng Đảng đã cản ngăn và còn đánh đập đồng bào, có ý dành độc quyền chống Tàu Cộng. Nhưng kính thưa Quý Vị, làm sao 4 triệu đảng viên CSVN có thể đánh lại được Trung Cộng? Đó là việc không tưởng. Ngược lại, rất có thể Trung Cộng sẽ đánh VN để dạy cho bài học thứ hai, bổ túc bài học thứ nhất đã xảy ra vào năm 1979. Có tin nói rằng trong suốt 39 năm qua, các tướng lãnh trong quân đội CSVN đã bị Trung Cộng nuôi cho béo mập cả rồi. Toàn thể cơ quan tình báo của VN đã bị Tàu khống chế. Vì thế, VN không còn sức để chống trả Trung Cộng bằng quân sự.

2. Cầu cứu Liên Minh Á Châu: Giải pháp này cũng thất bại, vì một số nước Á Châu đã thuần phục Trung Cộng rồi, như Lào và Campuchia. Một số nước không muốn dính vào cuộc chiến Trung-Việt, như Thái, Singapore, Mã Lai, Indonesia. Có một nước Á châu bị Trung Cộng xử ép y như VN, đó là Phi luật Tân, nhưng họ lo thân họ chưa xong, lấy gì để giúp VN. Cho nên, VN hoàn toàn cô đơn khi cầu cứu các nước láng giềng giúp để chống Trung Cộng.
 
3. Cầu cứu Hoa Kỳ: Chỉ có một siêu cường quốc có thể đương đầu với Trung Cộng để cứu VN, đó là HK. Thực tế, Phó Thủ Tướng VC kiêm Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh đã gọi điện thoại cầu cứu Ngoại Trưởng HK John Kerry rồi và ông Kerry đã trả lời, muốn gì thì khăn đóng áo dài qua HK mà tâu trình. HK thừa biết rằng men chiến thắng đánh đuổi Mỹ vẫn còn dính trên môi, trên miệng CSVN, mà giờ này CSVN lại mở miệng cầu cứu Mỹ thì những người có liêm sỉ không dám làm như vậy. Ngoài ra, ai cũng biết rằng Obama nói thì hay mà làm thì dở. Nghe Obama cam kết, hứa hẹn mà vội vui mừng thì quá ư là ngây thơ. Mà nghĩ cho cùng: Hoa Kỳ là ai? Hoa Kỳ không phải chỉ có Barrack Obama hay John Kerry, Hoa Kỳ lại có cả tiếng nói và lá phiếu của chúng tôi đây, những người đang ngồi trong căn phòng này và tất cả những người gốc Việt, mang quốc tịch Hoa Kỳ hiện đang sống trên khắp nước Mỹ. CSVN nên nhớ rằng chúng tôi đã thề sẽ chống Cộng cho đến chết, cho nên đừng hòng chúng tôi lên tiếng bênh đỡ. Chúng tôi có con đường đánh Tầu Cộng riêng của chúng tôi, nhưng sẽ không bao giờ có chuyện chúng tôi đi chung với CSVN để chống Trung Cộng.

Điều chúng tôi muốn gửi tới đồng bào yêu nước ở quốc nội là muốn chống Trung Cộng, trước tiên phải dẹp bỏ chướng ngại vật, tay sai của Tàu Cộng là Đảng CSVN. Chúng chỉ có cái tên khoe mẽ: Hùng-Dũng-Sang-Trọng, nhưng thực chất là Hèn-Dốt-Sai-Trật. Sau đó, một Hội Nghị Diên Hồng được thành lập bao gồm những người Việt Quốc Gia quốc nội và hải ngoại, đang mang quốc tịch của nhiều quốc gia trên thế giới, có đủ sức áp lực ngăn cản mộng Đại Hán của Tàu Cộng. Đừng sợ Tàu mạnh. Mới chỉ sơ sơ có các cuộc biểu tình tự phát của dân Việt chúng ta mà Tàu Cộng đã phải vội khăn gói về nước. Ở Hoa Kỳ, mới chỉ có một người mở chiến dịch lấy chữ ký gửi Toà Bạch Ốc mà chỉ nửa tháng đã có đủ cả trăm ngàn chữ ký để lưu ý Tổng Thống Obama. Đảng CSVN chỉ biết luồn cúi, chứ không bao giờ có khả năng làm được những việc như vậy.

4. Cầu cứu quốc tế: Quốc tế là những nước nào? Anh, Pháp, Đức, Gia Nã Đại, hay Úc chăng? Đừng quên rằng tại những nước đó, cũng có cả những người gốc Việt chống Đảng CSVN đến chết đấy. Họ cũng đang biểu tình chống Trung Cộng và đả đảo Đảng CSVN!

5. Kiện Trung Cộng tại Toà Án quốc tế: Giải pháp này xem ra hấp dẫn nhất và Nhà Nước VN có vẻ hồ hởi lắm, đến nỗi Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng hé lộ là VN đang cứu xét việc này.

Khi nói tới kiện tụng là phải nói tới: Ai kiện, kiện ai, tại sao kiện và kiện tại Tòa nào? Sau đó, thắng kiện thì sao? Thua kiện thì sao?

Ai kiện? CSVN là nguyên đơn. Kiện ai? Trung Cộng là bị đơn. Kiện việc gì? Việc Trung Cộng xâm phạm hải phận VN.

Kính thưa Quý Vị,

Đây sẽ là một vụ án rất phức tạp. Thời gian không cho phép tôi dài dòng, nên chỉ xin nói rất vắn tắt, dễ hiểu, để Quý Vị nắm được vài nét chính của vụ kiện, nếu xảy ra:
Trở về với lịch sử, ngày 4-9-1958, Tàu Cộng tự ý ra văn thư ấn định lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lý, đồng thời xác định Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc.

Chỉ 10 ngày sau (14-9-1958), Phạm Văn Đồng, khi đó với tư cách Thủ Tướng nước VN/DCCH ký công hàm gửi Trung Quốc xin “ghi nhận và tán thành” quyết định của Trung Quốc.

Để giải thích cho hành động ngu xuẩn và bán nước này, ngày 2-12-1992, Nguyễn Mạnh Cầm, lúc đó là Bộ Trưởng Ngoại Giao giải thích rằng Bắc Việt biết rõ hai đảo Trường Sa và Hoàng Sa thuộc chính quyền miền Nam, chiếu Hiệp Định Genève 1954, nhưng CSVN đã phải ký ủng hộ Trung Cộng, vì “trong tình thế cấp bách, quan điểm lãnh đạo của ta là cần thiết, vì nó phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ tổ quốc”.

Quý Vị thấy rõ cái gian xảo của CSVN và Tàu Cộng. Chủ tớ về hùa với nhau đi cướp nhà hàng xóm. Đất đai của hàng xóm chủ đòi lấy, tớ vỗ tay tán thành. Đến khi giết được hàng xóm thì bây giờ chủ tớ phản bội nhau. Cùng một cách này hai Đảng CSVN và Tàu lừa bịp thế giới tự do để xé bỏ Hiệp Định Paris 1973 và bức tử VNCH. Tôi thiết tưởng đây là lúc Ủy Ban Vận Động Hiệp Định Paris 1973 và LS Lê Trọng Quát cần hoạt động mạnh để tái lập nền Cộng Hòa VN.
Nếu CSVN phát đơn kiện Tàu Cộng xâm lăng thì bị đơn là Tàu Cộng sẽ trả lời thế nào? Ngày 15-5-2014, Tiếng Nói Nhân Dân Trung Hoa đã trả lời trước dư luận quốc tế là Trung Quốc không hề vi phạm đất đai, hải phận Việt Nam, vì vào ngày 14-9-1958, Thủ Tướng Cộng Sản Bắc Việt Phạm Văn Đồng đã ký văn thư tán thành chủ trương nới rộng hải phận của Trung Cộng để chiếm Hoàng Sa và Trường Sa.

Quý Vị thấy rõ cái mạnh và cái yếu của lời biện minh này. Mạnh là vì CSVN đã ủng hộ, vỗ tay tán thành cho Trung Cộng nới rộng hải phận, để xâm lấn đất đai VN. Yếu là vì như vậy là Tàu Cộng đã thú nhận Trường Sa và Hoàng Sa không hề bao giờ là của Trung Cộng, mà là do Phạm Văn Đồng dâng cho họ. Nhưng, khổ nỗi, vào lúc Phạm Văn Đồng ký văn thư đó, tức năm 1958, Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quyền kiểm soát của chính phủ VNCH, chiếu Hiệp Ước Genève 1954, chứ không phải thuộc miền Bắc, cho nên văn thư của Phạm Văn Đồng hoàn toàn vô giá trị và rõ ràng chỉ là một âm mưu của hai Đảng CSVN và Trung quốc để xâm lăng đất đai của VNCH mà thôi.

Vậy thì lý luận mạnh của Trung Cộng lại là lý yếu của CSVN và lý luận yếu của Tàu Cộng lại là lý mạnh của VNCH hay một chính thể do dân chúng VN bầu ra. Nói cách khác, CSVN đi kiện là thua mà VNCH hay những người quốc gia đi kiện là thắng.

Quý vị hãy hình dung cuộc chất vấn trước Toà Án Quốc Tế, khi Tòa hỏi nguyên đơn là CSVN:
- Phạm Văn Đồng là Thủ Tướng nước nào?

- Thưa là Thủ Tướng nước CHXHCN chúng tôi.

- Sao Thủ Tướng các ông ký ủng hộ Trung Cộng mà bây giờ các ông lại đến đây kiện Trung Cộng? Đáng lẽ VNCH phải đi kiện mới đúng chứ? Thế VNCH bây giờ ở đâu?

- Dạ, kính thưa quý Tòa. Chúng tôi đã ủng hộ Trung Cộng nới rộng hải phận để chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của VNCH để đổi lấy vũ khí. Nhờ vậy, chúng tôi đã bức tử VNCH ngày 30-4-1975 rồi ạ.

Tòa đập búa Công Lý cái rầm:
- Chính nguyên đơn đã đồng ý cho Trung Cộng mở rộng hải phận. Việc Phạm Văn Đồng có quyền ký văn thư hay không là thuộc nội bộ của chính phủ nguyên đơn, Toà Án Quốc Tế không quan tâm đến những thỏa thuận ngầm giữa hai Đảng CS để bức tử VNCH. Toà bác đơn. Và thế là Đảng CSVN thua kiện.
Nhưng cứ giả dụ là Toà Án Quốc Tế tuyên bố Trung Cộng xâm lăng VN đi. Tức là Trung Cộng bị xử thua. Rồi sẽ ra sao? CSVN cầm bản án đó để làm gì? Chúng ta nên nhớ rằng Toà Án Quốc Tế không có nhà tù, không có cảnh sát để thi hành án. Trung Cộng dù có thua kiện thì với cảnh cô thân, cô thế hiện nay của CSVN, hỏi rằng có quốc gia nào muốn bênh CSVN để đụng tới Tàu Cộng không? Ngược lại, nếu CSVN thua kiện thì Trung Cộng sẽ ồ ạt tiến chiếm lãnh thổ VN, căn cứ vào bản án cho họ thắng kiện.

Thêm nữa, giả như VN có đưa Trung Cộng ra trước Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc để lên án hành động xâm lăng và áp dụng các biện pháp trừng phạt đi chăng nữa thì Trung Cộng lại là một trong 5 nước được quyền phủ quyết. Khi Trung Cộng phủ quyết thì quyết định của LHQ bị vô hiệu hóa.

Tôi cũng phải nói thêm một sự kiện này để Quý Vị nào chưa hiểu rành về tổ chức LHQ thì đừng nên kỳ vọng quá nhiều vào LHQ hay Toà Án Quốc Tế. Sau thế chiến thứ hai, các quốc gia lập ra Liên Hiệp Quốc và 5 nước chiến thắng của phe Đồng Minh đã được giao cho quyền phủ quyết, tức là bất cứ quyết định nào của LHQ ban hành mà 1 trong 5 nước này phủ quyết thì bản văn đó sẽ trở thành vô giá trị. Năm nước đó là: Anh, Trung Hoa Dân Quốc (quen gọi là chính quyền Đài Loan), Mỹ, Nga và Pháp. Cho đến năm 1971, Trung Cộng vận động rất mạnh để các quốc gia bỏ phiếu tước quyền phủ quyết của Đài Loan và giao cho Trung Cộng. Và nhờ sức mạnh, Trung Cộng cướp được quyền phủ quyết từ tay Đài Loan. Thế là từ đó đến nay, Trung Cộng có quyền phủ quyết.

Mấu chốt của vấn đề Trung Cộng chiếm đất đai của VN là vì Hồ Chí Minh và Đảng CSVN đã bán nước cho Trung Cộng. Đảng CSVN đang làm thân trâu ngựa, trả nợ cho “chiến thắng” VNCH. Nếu còn ai chưa tin thì hãy nhớ lại những sự kiện mới nhất này:
- Khi dân chúng VN uất ức biểu tình chống TC liền bị Đảng CSVN thẳng tay đàn áp.
- Trung Cộng công bố VN nợ họ 870 tỷ đô la để theo đuổi chiến tranh chống Mỹ. Và đây là lúc VN phải trả nợ.
- Đầu năm nay, vào ngày 19-1-2014, đền thờ Lê Duẫn được khánh thành ở Hà Tĩnh và ngoài cổng có treo biểu ngữ: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc.” Tức là Đảng CSVN chỉ là bọn lính đánh thuê của Liên Xô và Trung Cộng.



 
- Ngày 9-5-2014, Hội Đồng Giám Mục VN đã báo động rằng: “Những thoả ước tôn trọng tình hữu nghị giữa hai quốc gia láng giềng, giữa hai Đảng Cộng sản, thực tế đã cho thấy không mang lại ích lợi cho dân nước mà còn đem đất nước vào tình trạng lâm nguy.” 
 
Và tất cả những điều tôi vừa trình bày chỉ là đưa đến kết luận: Muốn chống Tàu Cộng, đồng bào VN trong cũng như ngoài nước phải khai tử Đảng CSVN.
 
Đã 39 năm qua, kể từ 1975, chúng ta tranh đấu cho Nhân Quyền tại VN. Vậy mà chưa hề có một tia sáng Nhân Quyền nào xuất hiện. Lý do dễ hiểu là Cộng Sản làm gì có Nhân Quyền để mà cho. Chúng ta đã lầm. Quốc tế cũng lầm khi đòi hỏi những thứ mà Cộng Sản không hề có. Vậy từ nay, xin các nhà tranh đấu cho Việt Nam hãy đặt trọng tâm vào việc giải thể Đảng CSVN.

Trước tình thế hiện nay, không có một giải pháp nào để cứu nguy VN, ngoại trừ giải pháp phải thanh toán Đảng CSVN bán nước, trước khi đuổi quân xâm lăng ra khỏi VN. Không một quốc gia nào, không một tổ chức quốc tế nào, kể cả Liên Hiệp Quốc hay Toà Án Quốc Tế có thể cản ngăn được Trung Cộng xâm chiếm VN, ngoại trừ chính người VN phải ra tay làm việc này. Sức mạnh chính để chống Trung Cộng phải xuất phát từ người dân VN. Đảng CSVN không có tư cách gì để tồn tại trên đất nước VN nữa. Những phương cách Đảng này đưa ra để đương đầu với Trung Cộng chỉ là một màn kịch giữa hai Đảng CSVN và TQ nhằm kéo dài thêm thời gian, để hai Đảng này tìm cách đàn áp các phong trào yêu nước nổi dậy mà thôi. Nếu những người Việt quốc gia không nhận thức việc này thì sẽ xảy ra một vụ Thiên An Môn tại VN để hai Đảng CSVN và TQ thanh toán các phần tử yêu nước.

Khi nhìn đoàn biểu tình chống Trung Cộng tại một vài nơi, chúng ta thấy có những lá Cờ Đỏ Sao Vàng xuất hiện. Đây là một sự phi lý và nghịch thường. Cờ 5 Sao đẻ ra Cờ Một Sao. Cho nên Cờ Đỏ một Sao không bao giờ chống Cờ Đỏ 5 Sao. Chúng nó tuy hai nhưng là một. Cho nên, xin đừng ai hòa hợp, hòa giải với Đảng CSVN để chống Trung Cộng. Chúng ta hãy nhìn đoàn giáo dân thuộc Giáo Phận Vinh của Đức Giám Mục Nguyễn Thái Hợp hay các giáo dân nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội và Saigon. Họ tập trung chống Trung Cộng trông rất oai hùng và hợp lý. Họ chỉ mang theo cờ Hội Thánh và các biểu ngữ chống Trung Cộng.


KẾT LUẬN

Vào năm 1963, Mục sư Luther King mơ có một ngày nạn kỳ thị màu da tại Hoa Kỳ chấm dứt. Vậy mà chỉ 46 năm sau, tức là vào năm 2009, ông Barrack Obama, một người da đen đã trở thành Tổng Thống Hoa Kỳ.

Tại Hoa Kỳ này, những giấc mơ chính đáng đều có thể trở thành hiện thực.

Tàn lửa của Phật tử Lê Thị Tuyết Mai đã nhóm lên trước Dinh Độc Lập vào ngày 23-5 vừa qua. Tôi mơ tàn lửa này sẽ trở thành một biển lửa trong những ngày sắp tới để thiêu lụi Đảng CSVN.

Mới tuần trước, báo chí HK có đăng tin ông James Webb, cựu TNS đảng Dân Chủ, TB Virginia, đang nghiên cứu việc ra ứng cử Tổng Thống HK vào năm 2016. Ông Webb là một cựu chiến binh HK tham chiến ở VN và điểm đặc biệt, ông có vợ người VN là bà Lê Hồng, di cư năm 1975 từ Vũng Tàu. Tôi lại mơ HK có một đệ nhất phu nhân là một phụ nữ VN tỵ nạn CSVN. Bà sẽ cảnh giác chồng đừng nghe những gì Đảng CSVN nói, mà hãy tiêu diệt nó thì Việt Nam mới yên ổn.

Hiện giờ, sau 39 năm, tại các cơ quan chính phủ cũng như khắp các tổ chức của HK, đều đã có sự hiện diện của con cháu chúng ta. Trong quân lực Hoa Kỳ thế hệ thứ hai của người tỵ nạn Việt đã có người lên hàng Tướng Lãnh.

Tôi mơ thế hệ con cháu chúng ta, sẽ có một người da vàng, gốc Việt, trở thành Tổng Thống Hoa Kỳ.

Tôi mơ rằng vị Tổng Thống Hoa Kỳ gốc Việt này khi nhận chức mà Đảng CSVN vẫn còn hoành hành tại VN thì ông sẽ là người khai tử chế độ Cộng Sản tại VN, để trả nợ xương máu cho gần 58.000 quân nhân Hoa Kỳ đã hy sinh bảo vệ tự do cho miền Nam VN và trả lại danh dự cho những quân cán chính VNCH.

Tôi mơ rằng vị Tổng Thống Hoa Kỳ gốc Việt này sẽ quỳ lạy trước bàn thờ Tổ Tiên và khấn rằng:“Thưa Cha, thưa Mẹ, thưa Ông Nội, Bà Nội, thưa Ông Ngoại, Bà Ngoại... Con biết rằng các Ngài đã chống Cộng cho đến chết. Nay với quyền lực của Tổng Thống Hoa Kỳ, con đã khai tử Đảng CSVN rồi. Con xin đưa hài cốt các Ngài trở về an nghỉ mãi mãi trong lòng Đất Mẹ, nơi các Ngài đã sinh ra và dành cả một đời hy sinh để bảo vệ. Quê Hương Việt Nam nay đã hoà bình, không còn bóng dáng Cộng Sản. Xin các Ngài hãy an nghỉ giấc ngàn thu”.

Xin cám ơn Quý Vị.

TRẦN AN BÀI
Sau bài nói chuyện , nhiều chiến hữu cũng như khách tham dự đã thảo luận và đã nhất trí phải chống cộng đến khi nào cộng sản chết mà thôi.
Buổi lễ đđã kết thúc với phần văn nghệ của Đoàn văn nghệ CSQG Bắc Cali và các ca sĩ địa phương cùng lới cảm tạ của ban tổ chức.

Hà Thiên Long
__._,_.___




VĂN NGHỆ NGÀY QUÂN LỰC VNCH 19 – 06 – 2014



Như là một thông lệ, đến tháng 6 hàng năm, Khu Hội Tù Nhân Chính Trị Bắc California đều tổ chức một buổi Văn Nghệ nhằm để vinh danh các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà . Năm nay, cũng trên tinh thần đó, Khu Hội cũng đã tổ chức một buổi Văn Nghệ với chủ để nói về Lính và hát những bài nhạc lính. Việc làm này , ngoài ý nghĩa vinh danh còn có một hoài bảo là chào mừng các Quân cán Chính hiện còn đang tiếp tục tranh đấu nhằm giải thể chế độ Cộng sản Việt nam và đem lại tự do , nhân quyền cho dân tộc và đất nước.
Với một địa điểm thật khang trang và rộng lớn, và trước bàn thờ các vị nguyên thủ quốc gia cùng các Quân dân cán chính, sau khi mở đầu những nghi lễ của một buổi lễ như chào cờ và hát quốc ca  Hoa kỳ , Việt Nam Cộng Hoà và một phút mặc niệm để tưởng nhớ các chiến sỹ VNCH đã hy sinh cho tổ quốc. Ông Mai Khuyên, chủ tịch Khu Hội đã chào mừng quan khách bằng một bài diễn văn và đồng thời khai mạc buổi văn nghệ. Theo ông, Dù đã lưu vong 39 năm, nhưng người chiến sĩ VNCH, vẫn chưa cởi áo lính, diều này có nghĩa là các anh em quân nhân vẫn chưa giải ngủ, mà hiện vẫn còn chiến đấu chống cộng sản dưới một hình thức khác. Một hình thức mới không vũ khí , nhưng vẫn có hiệu quả nhất định và ông đã khẳng định sẽ chiến thắng.
Sau phần khai mạc của ông Mai Khuyên, các ông: Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình, cựu Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia , Trương thành Minh chủ tịch Cộng Đồng người Việt Quốc Gia bắc Cali, ông Nguyễn Tái Đàm cựu chủ tịch Cộng Đồng…..đã đến bàn thờ thắp hương cho các anh Linh.
Trong phát biểu, cựu Thiếu Tướng Bình nói: “ Vào những ngày này, ngoài việc vinh danh Quân Lực VNCH, chúng ta còn phải tưởng nhớ đến các anh em chiến sĩ đã bỏ mình vì chính nghĩa tự do. Trước đây chúng ta sống trong một đất nước có tự do , dân chủ và có tính nhân bản, chúng ta có tinh thần cao độ  yêu quê hương, yêu tổ quốc của chúng ta . Cho nên hể có giặc xâm lăng thì muôn người như một cùng chiến đấu đánh đuổi bọn ngoại xâm bằng mọi cách. Mặc dù biết rằng thực lực chúng ta yếu kém hơn giặc về vũ khí , nhưng chúng ta vẫn phải chiến đấu đánh đuổi bọn chúng . Chúng ta đã noi gương của tiền nhân và giữ vững bờ cõi.TRường hợp Hải quân Thiếu Tá Nguỵ văn Thà , hạm trưởng Hộ tống hạm Nhật Tảo HQ10 và các chiến sĩ Hải Quân đã chứng tỏ tinh thần bất khuất của Quân Lực VNCH.
Ngược lại bọn cộng sản Việt nam, thì lại hèn với giặc, không dám nói một câu gì có vẽ mạnh dạn và thẳng thắng với quân Tàu Cộng. Bọn CSVN đã cắt đất dâng cho Tàu Cộng và ký công hàm giao hải đảo cho cộng sản Tàu. Thật là một lũ bán nước cầu vinh….”
Tiếp theo lời của Thiếu Tướng Bình, ông Trương Thành Minh  đã nhấn mạnh rằng người Lính Việt nam Cộng Hoà không “ chết” dù bị bức tử, mà Quân Lực VNCH vẫn đang còn chiến đấu , và thật sự chiến đấu chống Cộng sản Việt Nam cũng như cộng sản Tàu. Thể qua đó tức là chống chủ nghĩa ngoại lai đã làm chết bao nhiêu thế hệ con em Việt nam, và làm băng hoại đất nước. Ông nói them: “ nếu muốn chống giặc ngoại xâm hữu hiệu là phải hạ bệ hay tiêu diệt bọn cộng sản Việt nam  “. Dân tộc VN phải anh dũng đứng lên tiêu diệt Cộng sản Việt Nam , nhiệm vị này là của toàn dân trong nước cũng như hải ngoại”
Ông Nguyễn Lương chủ tịch Hội Võ Bị Đà Lạt , với tư cách là một cựu quân nhân nói lên những suy tư của một người lính , và ông cho rằng, người lính VNCH hiện nay vẫn có những tâm tư nghĩ về đất nước mà một thời họ đã chiến đấu để giữ vững nói trong hai thập niên. Người lính theo ông là một biểu tượng sự chiến đấu và yêu nước. Họ đáng được vinh danh.
Bác sĩ Phạm Đức Vượng đại diên Tập Thể Chiến sĩ vùng Tây Bắc Hoa Kỳ  trong phát biểu đã nói bộc trực cho mọi người thấy rằng:  người lính VNCH phải đáng được kính trọng và đáng vinh danh, vì bởi những hy sinh của họ để giữ vững đất nước trong hơn 20 năm qua , việc làm của họ là việc làm đại nghĩa.
Còn bé Vivian một hậu duệ của các chiến sĩ VNCH , nhân dịp này đã cho biết rằng cháu sinh tại Hoa Kỳ , nhưng cháu rất căm thù Việt Cộng, qua nhân dáng của ông ngoại của cháu. Được biết ông ngoại của cháu là một quân nhân, đã bị bọn cộng sản bỏ tù và thân hình bị tê liệt sau khi được bọn VC tạm tha. Và qua ông ngoại , nên cháu đã biết rõ bản chất của người CSVN. Cháu cũng đã kêu gọi giới trẻ hôm nay, cùng đứng lên theo gương các bác các chú là cựu chiến sĩ VNCH trong thời gian tới tranh đấu mãnh liệt để cùng nhau nhằm giải thể chế độ độc tài CSVN.
Sau phần phát biểu của quan khách và các chiến hữu, Chương trình văn nghệ được trình diễn một cách độc đáo Chiến hữu Duy Văn với tư cách là Trưởng ban Văn nghệ Khu Hội Tù Nhân Chính  Trị đã cùng anh Nghê Lữ cùng 2 MC Kiều Đông Phương và Công Thuận lần lượt điều khiển chương trình văn nghệ . Những nhạc phẩm viết về Lính , cho Lính từ trước năm 1975 đã được các ca sĩ Thanh Trúc, Thuỳ Nga , Hoàng Anh , Bác sĩ Khiết, Kim Sơn, Lệ Hằng, Thuỳ Dung, Hồng Loan, Trương Ngọc Mỹ ,Vivian….đã làm cho buổi văn nghệ sống động đầy màu sắc lính. Đặc biệt,màn nhạc diễn Hội Nghị Diên Hồng do ca sĩ Hoàng Vinh và nhóm bạn thực hiện thật đặc sắc , nhiều tràng pháo tay tán thưởng màn hoạt cảnh này. Có nhiều quan khách cho rằng màn Hội nghị Diên Hồng có tính thời đại, bởi bọn Tàu Cộng đang xâm lấn đất nước ta mà bọn Cộng sản Việt nam lại hèn nhát không dám đánh trả hoặc có lời cứng rắn để bảo vệ chủ quyền đất nước. Hội Nghị Diên Hồng đó chính là lời hiệu triệu của toàn dân đồng tâm chống ngoại xâm. Vì thế màn nhạc diễn , ngoài tính thời đại còn tính cách tâm lý nữa.
Buổi văn nghệ chấm dứt vào  khoảng 3 giờ chiều, sau phần thụ lộc.

                                                                                     
Hà Thiên Long

Thứ Năm, 1 tháng 5, 2014

TƯỞNG NIỆM NGÀY QUỐC HẬN 30 THÁNG 04

Duy Văn


Hàng năm đến tháng tư, các cộng đồng tị nạn Cộng sản người Việt trên toàn thế giới, đều tổ  lễ tưởng niệm và họ coi như là một truyền thống và cũng gọi đó là ngày QUỐC HẬN.Trong ý nghĩa này, cũng nói lên tinh thần tưởng nhớ đến Quân, Dân Cán, Chính Việt Nam Cộng Hòa đã bỏ mình vì tổ quốc, chiến đấu để giữ vững miền Nam tự do trong suốt 2 thập niên từ năm 1955 đến 1975.
Tại San jose, Cộng Đồng người Việt tị nạn cũng nghiêm trang tổ chức ngày Quốc Hận tại Tiền Đình Quận Hạt Santa Clara. Hàng trăm đồng bào và các cựu quân nhân của các quân binh chũng đến tham dự.
Cũng giống như nghi thức hằng năm, Tất cả Quân Dân Cán Chính tề tựu chào quốc kỳ , hát Quốc ca Việt Nam Cộng Hòa, phút mặc niệm cho Quân , cán Chính bỏ mình vì tổ quốc và cùng với 58 ngàn chiến sĩ Hoa Kỳ đã hy sinh vì cùng sát cánh chiến đấu với quân đội Việt nam giữ gìn tiền đồn tự do là miền nam Việt Nam. Đặt vòng hoa trước đài tử sĩ , niệm hương trước bàn thờ tổ quốc….
Năm nay, dưới sự điều họp của chiến hữu Mai Khuyên Chủ tịch Khu Hội Tù Nhân Chính Trị và các thành viên của cộng đồng người Việt Quốc Gia Bắc Cali. Lễ tưởng niệm năm nay có phần rước di ảnh của 5 tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa tuẩn tiết , đó là : Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Quân Đoàn 4 và quân Khu 4, Chuẩn Tướng Lê văn Hưng Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 4, Thiếu Tướng Phạm văn Phú Tư lệnh Quân Đoàn 2 và Quân Khu 2, Chuẩn Tướng Trần văn Hai Tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh, Chuẩn Tướng Lệ Nguyên Vỹ , Tư lệnh sư Đoàn 5 Bộ Binh và cùng linh vị với tên tuổi hơn 30 vị là sĩ quan cấp tá , cấp úy , Hạ sĩ quan cùng binh sĩ .
Ông Trương thành Minh, chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Bắc Cali đại diện đồng hương tị nạn cộng sản nói lên ý nghĩa của ngày đau thương 30 tháng tư. Ông cho rằng việc có ngày này là do Cộng sản đã vi phạm Hiệp định Paris tấn công cưởng chiếm miền Nam dưới sự sự đồng thuận của đồng minh Hoa kỳ . Trong ý nghĩa này, là Hoa Kỳ đã phản bội Việt Nam Cộng Hòa.
Trong số nhiều chính khách Hoa kỳ và Việt đại diện cho các đoàn thể nói lên ngày Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử . Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình Cựu Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa đã nhận định : Ngày Quốc Hận, chúng ta không chỉ đau buồn không thôi mà chúng ta vươn lên và cần phải vinh danh, các chiến sĩ đã bỏ mình vì tổ quốc. Chúng ta cũng không quên nhớ ơn đến 58 ngàn binh sĩ Hoa kỳ và gia đình của họ ,đã đưa con em của họ cùng với chúng ta chiến đấu bảo vệ miền Nam một thời gian khá dài. Và cũng nên nói: sau 39 năm đất nước bị cộng sản chiếm đóng. Người dân của chúng ta trong cũng như ngoài nước đều thấy rõ sự tàn ác ,sự phá hoại của cộng sản.nên đã đồng đứng lên phản kháng một cách công khai, nhất là dân oan trong nước họ đã chống đối lại bạo quyền cộng sản đang cai trị đất nước của chúng ta . Như chúng ta đã biết cộng sản Việt Nam quỳ lụy Trung Cộng đàn áp người dân , không cho người dân nói lên tấm lòng yêu nước của mình. Cộng sản Việt Nam là một bọn người “ Hèn với Giặc, Ác với Dân” nhầm toa rập cùng với giặc để dâng hiến đất đai cho giặc để đảng của họ được vững. Đó là một lũ bán nước thật sự. Vì thế nhân ngày tưởng niệm 30 tháng 4. Chúng ta cũng không nên bi lụy, mà ngay bây giờ chúng ta hãy cùng đồng bào trong nước, liên kết đấu tranh để sớm giải thể chế độ tàn ác cộng sản này.Hiện tại, qua mấy mươi năm các an hem, chiến hữu cùng gia đình cũng đã vượt qua nhiều gian khổ trên xứ người, và bây giờ đã có sự thành công nhất định. Các con em của các chiến hữu đã thành tài, đổ đạt và đã góp phần không nhỏ trong các cơ cấu chính quyền, kinh tế… trên đất nước Hoa Kỳ này và đã làm cho người Mỹ bản xứ nhất là chính quyền nể phục. Chúng ta đã thấy, ngay tại San Jose này thôi, chính quyền địa phương họ rất là tương kính cộng đồng người Mỹ gốc Việt của chúng ta , vì thế chúng ta cũng có những đối tác tương kính trên tinh thần ngoại giao và đôi khi cũng phải đòi hỏi họ những gì cộng đồng của chúng ta cần .Thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình cũng đã cụ thể hóa những gì mà cộng đồng của chúng ta đòi hỏi nơi họ, mà theo ông là họ phải đáp ứng 100%.. Và nhờ vậy chúng ta đã có sức mạnh và tiến bước lên để biến nơi hải ngoại thành một hậu cứ chống cộng tốt về mọi mặt của VNCH. Và từ đó xây dựng thế hệ trẻ có một tinh thần quốc gia kiên cường , biết yêu tự do dân chủ , để các em là những người trực diện giải quyết cái vần nạn cộng sản hiện tại, đưa đất nước đến con đường tự do , dân chủ quang vinh.
Buổi lễ tưởng niệm, kêt thúc lúc 3 giờ chiều sau phần văn nghệ đấu tranh của các ca nhạc sĩ trong vùng.
Sau thời điểm đó , cùng ngày tại Khu Hội Tù Nhân Chính Trị số 111 E. Gish Rd, Các an hem tù nhân chính trị cũng đã tổ chức một buổi lễ Giổ Quân cán Chính VNCH. Có hàng trăm đồng hương và và các cựu quân nhân tham dự . Chiến hữu Mai Khuyên chủ tịch Khu Hội đã phát biểu và nói lên tinh thần ngày truyền thống này. Ông cho rằng Khu Hội là một cơ chế pháp nhân , là nơi để thờ phượng Quân Dân, cán Chính VNCH , những người đã một thời chiến đấu hy sinh để bảo vệ miền Nam Việt Nam, hoặc những người đã không chịu khuất phục , không chấp nhận chế độ cộng sản, với nhiều hình thức . Bây giờ họ đã không còn. Chúng ta phải biết ơn và thờ phượng họ , như là một ân nhân của đất nước, và khu Hội làm công việc này như là một sự biết ơn đặc sũng với linh hồn của họ
Sau phát biểu của chiến hữu Mai Khuyên, nhiều chính khách ngoại quốc, đại diện các Hội đoàn và đồng hương lần lượt lên thắp nén hương tưởng nhớ đến họ. Nhân dịp này nhiều người cũng nói lên cảm xúc của mình trước bao sự hy sinh vô bờ bến ấy. Có người đã nói lên sự kiêu hùng của người lính VNCH, cùng với sự tôn kính tuyệt đối.
Tất cả những người tham dự, trong hội trường ai ai cũng đồng lòng vinh danh người lính VNCH, và cho việc vinh danh này như là một sự đền đáp công lao vô giá đối với họ, mà người may mắn hơn họ cần phải làm.
Song song với sự vinh danh bằng lời và bằng hành động cùng cảm xúc qua việc thắp nhang tưởng nhơ. Ban văn nghệ của khu hội cũng đã trình diễn những nhạc phẩm có tính chủ đề ngợi ca quê hương , ca ngợi người lính, và những ca khúc hùng tráng một thời người lính VNCH đã nhờ đó trở thành người lính anh dũng ,hiên ngang như vị tồng Tư lệnh Quân Đội VNCH ,tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đã từng ấn sắc: : An Lộc anh Dũng, Kontum kiêu hùng, Trị thiên vùng dậy.để khen người lính quân đội Việt Nam Cộng Hòa.
Buổi lễ giổ Quân Cán Chính chấm dứt trong tinh thần biết ơn người đã khuất và cám ơn người đến dự

Duy Văn