Thứ Sáu, 5 tháng 2, 2021

TƯỚNG NGUYỄN KHOA NAM VÀ ĐỊNH MỆNH ĐỜI TÔI


 

           


Kq. Nguyễn Thành Hưng

 
Trong đời sống con người có những cuộc hạnh ngộ bất ngờ mà ta không thể tiên đoán được; nhữngcũngcó những cuộc gặp gỡ mang đến điềumay mắn, niềm hân hoan và hạnh phúc. Ngược lại cũngcóthểlà bất trắc, tai ương và đau khổ; nhất là đối với một quân nhân thuộc quân chủng Không Quân như tôi,  không nằm dưới quyền chỉ huy trực tiếp lại phải “Trình diện Tướng” là một điều hiếm thấy thật đáng lo.

 Người mà tôi sắp phải đối diện đó là Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh, bản doanh đặt tại căn cứ Đồng Tâm (Mỹ Tho).Được biết Ông nổi tiếng là một quân nhân nghiêm  minh, chuyêncần, trong sạch tận tụy vì công vụ, không cậy thế cậy quyền hống  hách, được thuộc cấp kính nể mến thương.Trong trường hợp này, ắt hẳn  có chuyện gì thật nghiêm trọng xảy ra, mà tôi được lịnh phải có mặt tức khắc tại văn phòng tư lệnh.

 Linh tính cho tôi biết chắc có chuyện không lành sắp xảy ra sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc đời binh nghiệp của mình. Lòng dạ hoang mang, vô cùng lo lắng.  Vâng! Xin thưa cùng quý vị, câu chuyện như sau:

 Phi đoàn 122 Quan Sát (L-19 & U17 Cessna) đặt tại phi trường Trà Nóc, Cần Thơ. Nhiệm vụ của phi đoàn là phụ trách không yểm cho bán phần lãnh thổ quân khu IV gồm các tỉnh như Long An, Kiến Phong, Kiến Tường, Châu Đốc, Định Tường, Vĩnh Bình, Long Xuyên và Cần Thơ.

 Giữa năm 1973 chiến sự bùng phát dữ dội, những cuộc hành quân được tung ra hầu ngăn chặn, giải vây, lùng và diệt địch diễn ra khắp  vùng nổi tiếng gai góc, có biệt danh là khu “tam giác sắt”: Sầm Giang, Cái Bè và Cai Lậy, phần lãnh thổ  trách nhiệm của SĐ7-BB.Nên chúng tôi luôn luôn có 3 phi hành đoàn (PHĐ=2người) túc trực tại sân bay Đồng Tâm, Mỹ Tho không xa mấy văn phòng củaThiếu Tướng Tư Lệnh.

 Sau khi phi cơ đáp an toàn và đang taxi (di chuyển) về bãi đậu, tôi chợt thấy một chiếc xe Jeep của SĐ7-BB đang phóng nhanh về hướng phi cơ.  Vừa mở cửa bước xuống tháo nón bay, trên tay cầm xấp bản đồ và phi lịnh hành quân thì thấy chiếc xe Jeep được lái bởi một quân nhân cấp bậc trung sĩ thắng gấp, dừng ngay bên cạnh.Tôi quá đổi hoang mang và kinh ngạc trước sự kiện lạ lùng chưa bao giờ xảy ra cho các PHĐ đã từng biệt phái yểm trợ cho SĐ7-BB từ trước tới nay ở căn cứ Đồng Tâm nầy.

- Chào đại uý.

Tướng Nguyễn Khoa Nam

- Chào trung sĩ, có chuyện gì xảy ra? Tôi lo lắng hỏi dồn.

-Thiếu Tướng vừa chỉ thị tôi ra rước PHĐ đưa vào phòng họp ngay.

-Trung sĩ có biết vì sao?...Anh Tr/sĩ chẳng nói một lời, nhấn ga chiếc xe chồm tới như con ngựa bất kham, để lại phía sau một đám bụi mù.

 Ngồi trên xe Thiếu uý Hội -- Phi công trẻ, hiền lành dễ mến mới về phi đoàn khoảng 6 tháng -- với vẻ mặt lo âu nhìn tôi hỏi nhỏ:

 -Đại uý có biết chuyện gì xảy ra cho chúng  ta không?

 Để trấn an Hội dù trong bụng đang đánh lô tô,  cố giữ v mặt bình thản khuyên Hội hãy yên tâm, là trưởng phi cơ tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm và sẽ trình bày mọi diễn tiến phi vụ yểm trợ tiếp cận sáng nay,  với một tiểu đoàn bộ binh ở vùng Cai Lậy cùng Thiếu Tướng nếu có liên quan đến sự việc đó.

1927– 1975

-Thiếu Tướng 1972.

-Tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh 1970 – 1973.

-Tư lệnh Quân Đoàn IV & Quân Khu IV 1974 – 1975.

 Xe vừa thắng gấp trước văn phòng, anh Trung sĩ mời chúng tôi vào gặp Trung uý (có lẽ là tuỳ viên Tư Lệnh) trong một phòng nhỏ có cửa ăn thông với phòng họp rất to trang bị tiện nghi, thích ứng với phòng hợp hành quân. Ngoài bàn làm việc có dựng một lá cờ nhỏ 2 sao của Tướng Nam, phía đối diện là mộty ghế cho khoảng 100 người. Phía sau bàn Tư Lệnh được treo một bản đồ hành quân có kích thước thật lớn từ vách trái sang vách phải của phòng họp.Trên đó ghi chú phần tương quan lực lượng địch và bạn, cùng với chi chít các địa điểm giao tranh được đánh dấu bằng viết chì mở màu xanh  đỏ.

 Hồi hộp bước vào phòng,  tôi liếc nhanh không thấy Tướng Nam, chỉ thấy 2 sĩ quan mang cấp bậc Trung tá và Đại tá. Tôi đứng nghiêm chào thì Ông Đại tá cất tiếng ôn tồn hỏi: Có phải PHĐ vừa thi hành phi vụ yểm trợ oanh kích cho tiểu đoàn bộ binh gần Cai Lậy phải không?

-  Dạ,  khoảng 9 giờ sáng nay,  thưa Đại tá.

- Thiếu Tướng bảo Đại uý chờ trong giây lát vì Ông rất bận trong phòng truyền tin sư đoàn.

Tôi định hỏi vì sao chúng tôi phải có mặt tại đây thì bất ngờ Tướng Nam từ phòng truyền tin bước ra với vẻ mặt mệt mỏi pha chút giận dữ.Từ xa Ông ngước nhìn chúng tôi hất hàm gằn giọng hỏi:

-có phải PHĐ vừa yểm trợ oanh kích cho tiểu đoàn bộ binh ở vùng Cai Lậy? 

-Trình Thiếu tướng khoảng 9 giờ sáng này. Tôi lo sợ run run trả lời.

Rồi bất thình lình Ông đập mạnh tay đánh rầm xuống bàn:

Phi công Nguyễn Thành Hưng

-Vậy là hai chú giết hết con cái tôi rồi!

 

Tôi điếng người đứng chết trân, hồn bất phụ thể, lúng túng chưa biết phản ứng ra sao, vội liếc nhanh tìm hai ông Tá hy vọng hai người có thể góp phần giải thích hộ để Tướng Nam giảm bớt cơn thịnh nộ trong lúc này, nhưng chỉ thấy Th/uý Hội còn lại trong phòng mặt xanh như tàu lá.

Tướng Nam chống hai tay lên bàn hướng về phía chúng tôi nói tiếp:

- Các chú có biết đơn vị bị thiệt hại do oanh kích vừa gọi về báo số tổn thất tổng kết là 7 quân nhân chết tại chỗ và hơn 10 bị thương!

Mắt tôi nổ đôm đốm, hai lỗ tai lùng bùng, mồ hôi ướt trán, cố gượng đứng vững trên đôi chân tưởng chừng mềm như bún khi bất ngờ được biết số thương vong của quân bạn quá lớn những vậy!   

-Trình Thiếu tướng… không đợi tôi nói hết câu và có lẽ  thấy gương mặt quá thảm não của tôi và sự sợ hãi của Thiếu uý Hội, Ông khoát tay ra lịnh, một quân nhân mang ra một khay đựng 3 ly nước lạnh. Tướng Nam đẩy 2 ly nước về phía chúng tôi rồi Ông dịu giọng nói: Tôi biết Đại uý (Bây giờ ông mới gọi tôi bằng cấp bậc!) muốn trình bày, hãy uống ít nước lấy lại bình tĩnh và có 5 phút vắn tắt vì tôi phải đi bay để kiểm tra lại tọa độ oanh kích sáng nầy.

Cố gắng lấy lại bình tĩnh, tôi rút ngay tấm bản đồ hành quân trong túi áo bay trải  lên mặt bàn. Tôi trình bày:

-Trình Thiếu tướng - PHĐ cất cánh khi nhận lệnh hành quân lúc 8 giờ sáng, trên phi trình đến vùng hành quân tôi đã liên lạc trực tiếp với Alpha (Tiểu đoàn Trưởng), và chính vị TĐT này gởi tọa độ yêu cầu không yểm mà tôi có ghi rõ ràng chi tiết trên phóng đồ hành quân của riêng tôi. (Ông bước đến gần để nhìn kỹ và ghi tọa độ oanh kích vào mnh giấy nhỏ). Trước khi đánh quả bom đầu tiên tôi cũng đã xác định lại tọa độ với sự đồng thuận của Alpha.

 -Vậy tại sao bom lại rơi trúng vị trí quân bạn? Tướng Nam gằn giọng hỏi gắt.

Tôi ú ớ, loay hoay tìm cách trả lời, chợt nhớ đến mẫu đối thoại trên tầng số không lục với Alpha sau pass bom đầu tiên vừa đánh vào mục tiêu.

-Thưa Th/tướng, không biết ở phòng truyền tin sư đoàn có theo dõi phi vụ yểm trợ tiếp cận trên tần số không lc với TĐ sáng nay hay không? Nếu Th/tướng cho phép tôi xin thuật lại những gì xảy ra trong thời gian hướng dẫn khu trục đánh bom.

-Đại uý hãy trình bày ngắn gọn tôi không có nhiều thì giờ!Tướng Nam một lần nữa gay gắt thúc giục.

-Dạ!Tôi mừng thầm --Xin đượctrình sau đây là mẫu đối thoại với Alpha:

-“Alpha đây Họa Mi gọi (Danh hiệu L-19).

-Alpha nghe Hoạ Mi 5/5.

-Thần báo (danh hiệu A-37) vừa đánh pass bom đầu tiên vào mục tiêu do bạn yêu cầu mà tại sao giờ này con cái bạn bê bối vẫn còn hút thuốc? (Bung khói màu khẩn cấp báo hiệu vì bom đã dội trúng đội hình quân bạn).

-Tiếng Alpha rõ ràng, mạch lạc: Vịt con (Việt Cộng) giả dạng phe ta đó Hoạ Mi! Chúng nó chơi mánhnày,  nhiều lần lắm rồi! Yêu cầu chim sắt(khu trục cơ A-37) cứ tiếp tục.

 Nghe đến đây Tướng Nam lộ vẻ bực dọc tức tốc rời phòng họp trước sự ngạc nhiên và lo sợ của chúng tôi. Ít phút sau viên Trung uý tùy viên vào cho biết là Thiếu tướng bảo PHD chờ tại đây, Ông ra lấy trực thăng bay  lên vùng kiểm tra tọa độ vừa oanh kích.

 Tôi buồn bả ngồi bệt xuống ghế ôm đầu tự hỏi! Có phải sự việc xảy ra hôm nay là  bước ngoặt quan trọng có thể chấm dứt đời bay bổng của mình? Ngoài ra, còn có thể bị giáng chức hoặc nhiều hình phạt khác dành cho một quân nhân phạm lỗi “tày trời”.Nếu Tướng Nam là một “Minh Tướng” lấy công tâm phán xét sự việc thì mình có hy vọng giải oan?  bằng không, hay hoặc vì truyền thống “phủ binh phủ, huyện binh huyện thì…

- Đại uý, nếu lỗi về phần không yểm thì mình có bị rút bằng bay và bị phạt tù không? Hội lo sợ lên tiếng hỏi cắt đứt giòng suy nghĩ của tôi.

- Hy vọng chắc không sao đâu! đây là lần thứ hai tôi cố gượng trấn an Hội khi lòng dạ rối như tơ vò.

“Vào hàng, phắc!” Tiếng Trung uý tuỳ viên hô to. Tôi bật dậy hồi hộp đứng nghiêm chào, từ xa Ông khoát tay ra lịnh dứt khoát ngắn gọn: “Trả PHĐ về lại sân bay!”.

Phi Công Nguyễn Thành Hưng

Hú hồn! Hú vía! Cám ơn Phật! Cám ơn Chúa! Không còn sự sung sướng nào có thể diễn tả nổi, sau gần một tiếng đồng hồ bó gối căng thẳng lo âu, sợ sệt, giờ chúng tôi như chim xổ lồng ào ra cửa phóng nhanh lên xe sợ Ông đ
i ý!

 Xe vừa về đến biệt đội, Đại uý Kiệt (Biệt đội trưởng),Đại úy Duy (Khờ) các Trung uý Kiệm, Hải và Sang ùa ra đón chào, tay nắm tay mừng mừng tủi tủi; mừng cho PHĐ “qua cơn bĩ cực” tủi buồn cho các chiến hữu bộ binh bị thương vongkhá nặng!

Đang trong bầu không khí phấn khởi thì chuông điện thoại reo vang.

-Biệt đội Đồng Tâm, Đại uý Kiệt nghe.

- Tôi Tr/tá Đặng(Mekong03) Trưởng Phòng Hành Quân Chiến Cuộc Sư Đoàn IV KQ) đã chỉ thị cho đại uý Nguyễn Cao Minh,  sĩ quan trực ngày hôm nay,  gọi trực tiếp với toán chuyên viên kỹ thuật phi đạo chuẩn bị sẵn sàng một Cessna U-17 trong vòng 45 phút nữa do Tr/tá Trần trọng Khương, Phi đoàn Trường lái sẽ đáp phi trường Đồng Tâm đón PHĐ về Cần Thơ ngay! Đó là lịnh của Mekong 01 (Tướng N.H.Tần Tư lnh SĐIV/KQ).Mọi người đều nghe rõ qua loud speaker.

- Nhận rõ Mekong 03. Quay sang tôi:

-Mầy và thằng Hội (chúng tôi thường gọi nhau mày tao) chuẩn bị đi là vừa, tao sẽ yêu cầu phi đoàn đưa PHĐ khác qua thay, còn một tuần nữa (biệt phái 2 tuần) hết biệt phái về Cần Thơ tao sẽ đãi mừng tụi bây một chầu.

-Tôi quơ nhanh túi quần áo và nón bay cùng Hội chuẩn bị sn sàng ra Parking(bãi đậu), trong khoảnhkhắc chiếc Cessna đã đáp an toàn và đang taxi (di chuyển) vào.

 Lấy đủ cao độ,  phi cơ vượt dòng Tiền giang phản chiếu lấp lánh dưới ánh mặt trời, quay nhìn về hướng mục tiêu oanh kích sáng nay, xa xa lửa vẫn còn nghi ngút cháy, những làn khói mỏng vươn lên loang tỏa trong không khí phủ quanh những cánh đồng lúa và vùng kinh rạch. Mơ hồ trong tâm tưởng, cảm nhận hình như mình cũng có một phần nào trách nhiệm! Ôi! Chiến tranh, bom rơi đạn lạc! Tôi buồn bã lắc đầu.Tiếng Tr/tá Khương vang trong nón bay:

- Hưng biết tại sao lịnh trên chỉ thị phải cấp tốc rước PHĐ về Cần Thơ ngay trưa nay không?

- Dạ! Thưa không Tr/tá.

- Sự việc đáng tiếc xảy ra, sư đoàn 4/KQ được thông báo và theo sát từng diễn biến đến khi biết không phải lỗi thuộc về Không Quân chúng ta.

Tôi ngắt ngang hỏi:

-Vây sao phải “bốc”chúng tôi về ngay tức khắc?

- Để tránh tối đa những va chạm không cần thiết vì có thể thân nhân hay bạn bè của nạn nhân trong lúc uất ức quẩn trí sẽ tràn vào phi trường hành hung PHĐ cho hả cơn tức giận!

Tôi giật mình ngỡ ngàng cảm động, bấm Intecom nói nhỏ:

-Cám ơn Tr/tá và các cấp chỉ huy lo cho sự an toàn của anh em phi hành.

 Phi cơ chạm bánh lướt nhẹ trên phi đạo,  trên đường về phi đoàn Tr/tá Khương vừa an ủi vừa ra lịnh: Tôi biết PHĐ mất tinh thần và mỏi mệt trong lúc này,  nhưng ngày mai Hưng chịu khó vào phi đoàn viết bản tường trình mọi sự việc xảy để tôi trình lên SĐIV/ KQ và Bộ Tư Lịnh/KQ Tân Sơn Nhứt; sau đó tôi sẽ ký 48 giờ phép để cho PHĐ có thì giờ nghỉ ngơi hầu lấy lại tinh thần.

Lòng hân hoan rộn rã, liếc sang Thiếu uý Hội giờ mới thấy lần đầu tiên chú em  vui ra mặt.

-Cám ơn Tr/tá đã quan tâm đến PHĐ. Tôi vui vẻ trả lời.

-À! Còn một điều quan trọng nữa là tôi sẽ chỉ thị cho Th/tá Hảo (Trưng phòng hành quân phi đoàn) không cắt Hưng và Hội biệt phái Đồng Tâm trong vòng 6 tháng tới. Nghe rõ chưa?

Tôi như mở cờ trong bụng:

-Dạ! 5/5 thưa Tr/tá.

 Hôm sau, đúng 8 giờ sáng đã có mặt ở phòng hành quân phi đoàn, sau khi viết xong bản tường trình tôi đi thẳng vào phòng phi đoàn trưởng trình Tr/tá Khương. Ông đọc thật kỹ xong gật đầu:

-Tốt! Giờ anh qua ban văn thư lấy giấy phép tôi đã ký chiều hôm qua.

-Cảm ơn Tr/tá. Tôi lí nhí pha chút cảm động vì cách đối xử tế nhị của ông trong tình huống nầy.

 Nhét giấy phép vào túi, lòng vui rộn rã, rảo qua phòng hành quân, khều vài thằng bạn thân, hẹn khoảng 4 giờ chiều đến câu lạc bộ sư đoàn lai rai để “lấy lại phong độ chứ bây giờ cảm thấy “xệ” quá!

Câu lạc bộ trang hoàng thật đẹp mắt, hệ thống điều hòa khôngkhítoả làn gió mát lạnh làm dịu hẳn cơn nóng, tiếng nhạc êm dịu ngân vang.  Bọn tôi vừa dứt điểm pass một, nồng độ Cognac Hennessychưa tráng bao tử, pass thứ hai được chia đều, bất thình lình Lý Tống(thời gian này Lý Tống còn bay Cessna chưa xuyên huấn qua bay phản lực cơ A37), ở đâu ào tới nói to giọng Huế: Ê! Hưng, thằng Kiệt bên Đồng Tâm vừa gọi về phòng hành quân phi đoàn cần gặp mi gấp, chắc có chuyện chi!

 Tôi hơi khựng, nghiêm mặt hỏi lại:Thật không? Đừng có  giỡn nghe mậy! Cả ngày hôm qua tao bầm dập như trái chuối chín mùi rồi, muốn ăn nhậu thì vào đây!

- Tao nói thật, mi nên gọi hắn cho ra lẽ. Tống vừa ngồi xuống vừa trả lời.

-Okay!, vậy để tao lên phòng hành quân phi đoàn gọi nó. Ba đứa bây cứ tự nhiên, chầu này tao chi, nếu vì lý do gì tao không trở lại thì bảo anh quản lý ghi sổ. Nói xong tôi nâng ly thứ hai nốc cạn.

-Tạm biệt đội Đồng Tâm,Tr/uý Hải nghe.

-Hưng đây Hải, cho gặp Kiệt.

-Đại uý Kiệt qua họp bên Sư Đoàn 7,chắc cũng sắp về.

-Mầy bảo Kiệt gọi cho tao ở phòng hành quân phi đoàn, Tao chờ!

 Khoảng 5 phút sau, chuông điện thoại reo vang. Tôi vội vàng chụp ống nghe:

-Hưng đây Kiệt! Chắc có gì lạ xảy ra?

-Có, vui buồn lẫn lộn.

-Cái gì! Tôi gắt.

-Mầy bình tĩnh để tao nói.

-Okay! Nói ngay đi ông nội!

Máy Bay L 19

 -Ngày hôm qua sau khi Ông sếp rước tụi mầy về Cần Thơ, chiều đến tao có gặp hoa tiêu lái chiếc C & C (Command and Control = trực thăng chỉ huy) của Tướng Nam cho biết là khi bay kiểm tra tọa độ oanh kích thì đúng là tọa độ do Alpha yêu cầu. Vậy là mầy vui chớ gì? Kiệt hỏi thòng.

-Dĩ nhiên rồi! Còn sao lại buồn?

-Tội cho Alpha vì một phút chểnh mảng không nắm vững vị trí con cái, để một trung đội ém quân lạc ngay vào tọa độ oanh kích, hứng ngay loạt bom đầu tiên, máy PRC-25 b nát không liên lạc được với bộ chỉ huy tiểu đoàn, nên mới bung khói màu báo động xin ngừng đánh bom, nhưng quá muộn!

 Biết được sự việc, Tướng Nam tức giận vô cùng, Ông ra lịnh Alpha trình diện tức khắc tại vùng hành quân,  bốc lên trực thăng bay thẳng về bộ tư lệnh sư đoàn; đồng thời Ông chỉ định Đại uý Tiểu Đoàn Phó lên nắm chức Tiểu Đoàn Trưởng.

Tôi thảng thốt kêu lên:

-Trời! Trời! Tao đâu ngờ có sự đột biến nghiệt ngã như vậy!

-Mầy biết không! Cái mà làm cho Ổng hành động quyết liệt hơn, là khi biết thêm có một Thiếu uý, trung đội trưởng bị tử vong nguyên là một giáo sư dạy đệ nhị cấp ở  Sài-Gòn mới thuyên chuyển về phục vụ tiểu đoàn chưa quá 3 tháng.

-Trời! Tội nghiệp cho vị giáo sư quá! Nhưng li đâu phải tao gây ra! 

 Tôi lí nhí cố chống chế, phân trần trong tâm trạng mang mặc cảm hình như chính mình cũngđã phạm lỗi lầm nào đó!

-Tao biết! Ngày xui tháng hạn, thôi mầy đừng buồn, dù sao chuyện cũng đã qua. Kiệt hạ giọng an ủi.

 -Cám ơn mầy, phải nói là nhờ sự công tâm của Tướng Nam; nếu trường hợp gặp mấy ông tướng khác chắc giờ này tao ngồi trong phòng giam chớ không phải ông Thiếu tá TĐT! Thôi hẹn gặp lại tuần sau và nhắn với anh em bên đó nhớ bay bổng cẩn thận!

 

                                                     ***

 Phòng hành quân phi đoàn chật ních nhân viên phi hành, im phăng phắc trong bầu không khí nghẹt thở.Trên bục Tr/tá Trần Trọng Khương, phi đoàn Trưởng,  nói lời từ giã cuối cùng trước khi chia tay, tan hàng gãy cánh trong niềm đau đớn, uất hận, xót xa tột cùng của đời lính chiến: “Ngày 30/4/1975 định mệnh. Lịnh buông súng đầu hàng của TT Dương Văn Minh”.

 Tôi đứng chết trân, đôi tai lùng bùng, đầu óc trống rỗng, nhận thức mơ hồ chỉ nghe loáng thoáng tiếng ông nói trong vội vã Giờ phút nầy Anh em nào muốn đi U-Tapao, Thailand, lên xe pickup  (Loại xe KQ dành riêng cho Phi Đoàn) cùng tôi xuống bãi đậu phi cơ!“. Tiếng bàn ghế chuyển dịch, và rồi một làn sóng người ào ra khỏi phòng. Nhìn quanh giờ chỉ còn lèo tèo mấy mạng thất thần mặt mày ngơ ngác, trông rất thảm hại!

 Tôi buồn bã lửng thững ra khỏi phòng đi về hướng bãi đậu xe gắn máy dành riêng cho phi đoàn. Bổng một chiếc xe Jeep dân sự thắng gấp ngay trước mặt. Tiếng Đai/uý Công – Thằng bạn thân - hỏi dồn như thúc giục:

-Hưng! Giờ nầy gần 11 giờ trưa rồi sao mày còn nấn ná ở đây?

-Chiến tranh chấm dứt rồi! Mày định đi đâu thì đi! Phần tao trở lại đời dân sự sẽ đưa vợ con về quê sinh sống.

Tôi buồn bã nói buông xuôi:

-Trời ơi! Sao mầy ngây thơ quá! Tụi Cộng Sản đâu để mầy yên! Mầy có biết hồi khoảng 3 giờ sáng này tụi VC xâm nhập vào vòng đai phòng thủ, đại đội địa phương quân bảo vệ an ninh phi trường chống trả quyết liệt, đồng thời yêu cầu gunships của mình lên diệt gọn hơn trăm tên, xác nằm la liệt quanh hàng rào không? Ngoài ra bên ta bắt sống khoảng chục tên chúng khai: lệnh thủ trưởng bảo vào tiếp thu căn cứ vì tụi ngụy đã đầu hàng! Công nói một hơi.

-Tao có nghe súng nổ và tiếng trực thăng vọng vào cư xá, nhưng không biết VC tấn công vào phi trường.

-Vậy mầy muốn chúng nó vào đây cắt cổ mầy à? Công gằn giọng hỏi gắt.

Tôi giật mình thoáng sợ nhưng vẫn ậm ờ, phân vân.

-Tao ở ngoài Cần Thơ lái xe vào, bị kẹt ngoài cổng  phi trường, quân cảnh được lệnh Tướng Tần(Tư lịnh sư đoàn IV không quân). Nội bất xuất, ngoại bất nhập May mà tao có quen một sĩ quan quân cảnh nên mới vào đây được.

-Phải chi mày có mặt ở phi đoàn thì mầy đi chung với Tr/tá Khương.

-Ổng đi rồi à! Mà đi đâu? Công ngạc nhiên hỏi.

-U-Tapao, Thailand với Tr/tá Nhơn (Phi đoàn trưởng PĐ 124 từ Biên Hoà di tản xuống)Tôi đáp:

-Với tư cách là thằng bạn thân, tao yêu cầu mày phải quyết định ngay! Mầy biết không, ngoài Cần Thơ, Bình Thuỷ, dân chúng hoảng loạn, nhốn nháo chạy đôn chạy đáo tìm mọi phương cách để ra đi; trong khi mầy có phương tiện trong tay mà mầy lại bình chân như vại! Công lộ vẻ bực bội.

-Tao còn kẹt vợ con và hai em gái đang ở cư xá gần Bộ Tư Lịnh(trong phi trường).

-Tao biết! mầy chạy theo đến cổng bãi đậu phi cơ, lấy xe Jeep về đón gia đình, trong khi đó tao vào tìm phi cơ khả dụng. Nhanh lên! Công thúc như ra lịnh.

 Tiếng rầm rú vang dội như thúc giục của những chiếc phản lực cơ đang  ào ào cất cánh trực chỉ về hướng biên giới, âm vang của hàng chục trực thăng vô trật tự vần vũ trên không dọc theo đường phi đạo; hàng trăm quân nhân và gia đình mặt mày thất sắc, hớt hãi, ngơ ngác chạy ngược chạy xuôi bằng mọi phương tiện, tiếng người kêu gọi, tiếng trẻ con khóc, thật là một cảnh hoảng loạn chưa từng thấy!

 Chứng kiến tận mắt sự sợ hãi của dân chúng đối với Cộng Sản, trong giây phút sinh tử này tôi dứt khoát ra đi theo lời đề nghị hữu lý của Công.

Vừa đưa gia đình đến ụ chứa phi cơ thì thấy Công hốt hoảng chạy dội ngược ra la lớn:

-Chết rồi Hưng ơi!

-Có chuyện gì? Tôi ngạc nhiên hỏi.

-Tao kiểm soát 2 chiếc, cả hai đều bất khả dụng: một không có xăng; một hai bánh trước xẹp lép.Trán Công ướt đẩm mồ hôi, hổn hển giải thích hướng về ụ quen thuộc phía xa nơi có chiếc Cessna thường đậu.

-Vướng víu gia đình tao không thể đi nhanh được, Công mầy dọt nhanh đến ụ số 5.  Gấp! Giờ tôi ra lịnh ngược lại.

-Ừ! quýnh quá tao quên mất ụ chứa chiếc Cessna, Công vừa nói vừa phóng đi.

Hú hồn! Chiếc phi cơ tốt nhất của đơn vị chưa có ai rờ tới.Trong khi tôi đưa gia đình lên phi cơ thì Công đi vòng quanh tàu làm tiền phi(kiểm soát an phi trước khi cất cánh).

Đứng trước đầu phi cơ ra thủ hiệu cho Công nổ máy, nhưng thấy chong chóng động cơ không nhúc nhích. Tôi bực mình hét to:

-Sao không quay máy?

-Không có điện! Công đưa hai tay lên trời đáp với vẻ thất vọng.

Linh tính báo cho biết có chuyện chẳng lành, tôi phóng nhanh về phía sau phi cơ nơi để bình điện.

-Ai lấy mất bình điện rồi! Tôi than trời! (Sau nầy, chúng tôi mới biết có nội tuyến cài vào nhóm chuyên viên k thuật phi đạo. Báo hại, kẹt lại khá nhiều phi công và gia đình!

 Lục đục, đở đứa con trai 4 tuổi cùng vợ và các em xuống, đang đứng dưới cánh phi cơ trong tâm trạng chán nản, mệt mỏi gần như tuyệt vọng,bỗng thấy một phi công từ xa hớt hải chạy về hướng chúng tôi  tay xách nón bay. Khi đến gần nhìn kỹ lại là Đại uý Tuấn(sau tôi một khoá). Tuấn cũng vừa nhận ra tôi, lộ vẻ vui mừng buột miệng: Niên trưởng!

-Ê Tuấn!  Lái loại phi cơ gì? Trước tình trạng dầu sôi lửa bỏng này, tôi hỏi ngay.

-Trực thăng. Còn niên trưởng Cessna hả? Cho tôi tháp tùng với, vì đơn vị tôi mới di tản từ miền Trung vào.

Như chết đuối vớ được phao, lòng mừng khấp khởi tôi nhanh chóng đề nghị: Bên Cessna của tao tiêu tùng rồi! Bãi đậu trực thăng sát bên, hay là  tụi mình sang bênđó xem thế nào.

 Thấy Tuấn, Công đều gật đầu đồng ý, tôi thúc luôn:

-Nhanh lên! Hy vọng giờ này mình kiếm được tàu bay khả dụng. Tôi hất hàm về hướng bãi đậu.

Lê lết bầu đàn thê tử, mệt bở hơi tai mới đến được chiếc trực thăng mà Tuấn đang quay máy, cánh quạt tăng tốc độ quay tít như sắp cất cánh. Bất ngờ, không biết từ đâu một đoàn người ào tới chen lấn, xô đẩy, tôi cố lấy hết sức bình sinh, trong cảnh hỗn quan hỗn quân nầy mới đưa được thân nhân lên tàu; riêng phần tôi không tài nào chen lên được vì số lượng người trên tàu chật như nêm rồi.

-Xuống bớt! Xuống bớt! Tàu overload không thể cất cánh được. Tiếng Tuấn hét to hòa lẫn tiếng cánh quạt trực thăng vù vù quay tít làm tôi điếng người.Trên tàu không một ai nhúc nhích. Bổng có tiếng hô to “Tàu hư!”. Một vài người nghe vậy nhanh chân nhảy khỏi tàu, tôi cũng hốt hoảng không kém dang  tay định bồng thằng con xuống, nhưng Công lanh trí chụp cánh tay tôi bấm nhẹ và nháy mắt; đồng thời kéo mạnh tôi lên tàu đúng lúc cánh quạt vừa đạt vòng quay nhấc bổng con tàu lên cao. Hú hồn!

 Tàu bay chậm chạp, nặng nề lắc lư xuyên qua những cụm mây đen dày đặc, gió phần phật quất mạnh vào hông tàu, mưa bắt đầu rơi nặng hạt, tầm nhìn xa bị hạn chế tối đa. Bổng nghe tiếng Tuấn gọi vang: Niên trưởng! Niên trưởng Hưng!

-Tao đang nằmbẹp đằng sau thùng tàu nè!

-Niên trưởng lên đây phụ tôi một tay. Nhanh lên! Nhanh lên!

-Tao đâu biết lái trực thăng! Tôi đáp to trong tiếng ồn ào của động cơ.

 Tuy nói vậy, tôi cũng cố gắng chen lên hướng phòng lái, vừa thấy tôi Tuấn hất hàm về phía viên Thiếu uý đang ngồi ghế hoa tiêu phụ. Như hiểu ý viên Thiếu uý nhanh nhẹn đứng dậy và trao Helmet(nón bay)cho tôi.

-Tàu chở nặng, mưa to mùtrời, tầm nhìn xa giới hạn, gió giật mạnh quá! Niên trưởng check giùm vị trí và hướng bay. Tôi không quen với địa hình vùng IV này!  Giọng Tuấn run run nói một hơi.

 Từ cao độ 1500 bộ (500m)nhìn xuyên qua những đám mây đen rời rạc,lờ mờ trong mưa, thành phố thân yêu quen thuộc quận lỵ Ô-Môn (Một sự ngẫu nhiên, và đâu biết đây là lần cuối cùng nhìn lại nơi chôn nhau cắt rn của tôi).

 Tôi bấm intercom:

-Tuấn, tàu mình dạt xa về hướng tây phi trường rồi, nhưng yên chí, hãy giữ bình tĩnh! Thấy con sông lớn bên phải không? Đó là sông Hậu hướng về biên giới Việt-Miên.Tôi nhắc nhở.

Lây quây ít phút,  tàu vừa chui ra khỏi đám mây, cơn mưa nhẹ dần, không gian quang đãng, con tàu lướt êm. Tuấn có vẻ lấy lại tự tin nhìn tôi:

- Mình bay đâu đây niên trưởng?

- Xăng nhớt như thế nào? Tôi hỏi.

- Khoảng trên 2 tiếng bay.

 Chợt nghỉ đến U-Tapao,Thái Lan như Tr/tá Khương kêu gọi sáng này.

-U-Tapao,Thái Lan.Tôi đề nghị.

-Xa quá, tàu sẽ không đủ nhiên liệu đâu niên trưởng!

-Vậy mình ghé Phú Quốc lấy xăng, từ đó bay dọc theo bờ biển Campuchia là tới địa phận xứ Thái. Tôi cố thuyết phục.

-Không được! Không được! Tuấn lắc đầu lia lịa.

-Tại sao? Tôi gắt.

-Kinh nghiệm của tôi từ lúc di tản từ miền Trung vào, tàu đáp xuống rồi thì không thể nào cất cánh lại được vì  quá nhiều người tranh nhau lên tàu, hoặc có thể bị bắn theo khi tàu cất cánh, bởi một số quân nhân uất ức vì nghĩ họ bị bỏ rơi!

 Tôi ngẩn người nghe Tuấn dứt khoát giải thích như vậy.Không thể nấn ná, chần chừ trong giây phút sinh tử nầy. Đầu óc căng thẳng, hơi thở dồn dập. Theo cảm tính tôi buột miệng:

-


Đảo Côn Sơn!

(Trước đây khoảng ba ngày. Bộ Tư Lịnh/Không Quân gởi công điện cho phép nhân viên phi hành đưa gia đình vợ, con) ra đảo Phú Quốc hoặc đảo Côn Sơn lánh nạn. Sau đó phải trở về đơn vị ứng chiến. Đến lúc tình hình tồi tệ nhất thì lúc đó mới được phép lấy phi cơ bay sang U-Tapao,Thái Lan).

-Đảo Côn Sơn! Tuấn gằn giọng hỏi lại.

-Tuấn biết vị trí đảo chứ?

-Biết,  nhưng tôi chưa bao giờ bay xa trên biển.

-Đừng ngại! tao đã từng biệt phái hành quân ngoài đảo Phú Quốc nhiều lần(Đặc khu Phú Quốc), phần không hành xuyên biển để tao lo! Tôi nói chắc lời để trấn an Tuấn.

-Okay! Niên trưởng nhớ theo dõi, điều chỉnh phi trình nghe!

-Đồng ý! bây giờ Tuấn lấy 90 độ EAST, xuôi dòng sông Hậu ra biển Đông.-Đảo Côn Sơn nằm chếch về hướng 13 giờ và cách bờ biển tỉnh Bạc Liêu khoảng 90 Km đường chim bay. Trong khẩn cấp tôi hướng dẫn ngắn, gọn.

Tàu chuyển hướng, xuôi giòng sông Hậu trên cao độ 1500 bộ, dưới kia thành phố Cần Thơ nhạt nhoà qua khung kính,  ẩn khuất sau những cụm mây đen mờ dần trong làn mưa nhẹ. Tôi bồi hồi xúc động tự hỏi phải chăng đây là chuyến bay cuối cùng vĩnh biệt quê hương?

-Niên trưởng, hướng 1 giờ xa xa phía trước có phải là phi trường Sóc Trăng không?

-Đúng 5/5 Kế đó là Bạc Liêu.Tuấn bay đúng hướng rồi đó! Tôi khích lệ tinh thần.

 Thình lình tàu giảm cao độ một cách bất thường, chưa kp phản ứng thì âm thanh trong nón bay vang lên:

-Tôi đáp Sóc Trăng! Giao tàu cho niên trưởng. Tuấn với giọng dứt khoát.

-Trời! Trời! Tuấn định giết hết anh em trên tàu sao?! Tuấn biết tôi đâu phải là pilot trực thăng!

-Niên trưởng thông cảm, trong hoàn cảnh hiện tại, nghĩ đến vợ, con đang kẹt ở Saigon, tôi không nở bỏ đi một mình!

Trong giây phút sinh tử nầy, tôi quyết liệt, tay giữ chặt cần lái  với giọng hù dọa:

- Tuấn! Tuấn! Bạn mà hạ tàu xuống thấp, chưa kịp đáp, dưới sân bay tụi Việt Cộng nó xỉa lên thì coi như tiêu tùng cả đám!

 Dứt lời, nhìn sang thấy Tuấn không phản ứng, lầm lì chẳng nói năng gì, gương mặt lộ vẻ căng thẳng, u buồn, chăm chú điều khiển con tàu vẫn ở cao độ an toàn. Tôi tạm yên tâm. (hình như lối hù dọa có kết quả!) Để phá tan bầu không khí ngột ngạt:

-Tuấn! Mình sắp sửa đến cửa biển rồi đó!

-Ừ! Niên trưởng lo liệu nhe! Tôi không quen địa thế nầy.

-Okay! Nhiên liệu như thế nào?

-Gần 2 giờ bay. Tuấn trả lời.

-Tốt, khi ra tới biển lúc đó mình sẽ điều chỉnh lại hướng bay.

 Mưa đã dứt hẳn, tầm nhìn xa trên 10 cây số, không gian thông thoáng (Trời thương). Tuấn đưa tàu xuống dưới trần mây. Xa xa một màu xanh dương phản chiếu lấp lánh, tôi mừng rỡ:

-Tuấn! Mình vượt cửa biển sông Hậu rồi.

-Tàu bị Gusty Wind (Gió giật mạnh từng hồi), niên trưởng nên cẩn thận.

-Okay.

Con tàu đơn độc, lầm lũi bay ra hướng biển, từ trên cao nhìn xuống, một vùng trời nước mênh mông, nhấp nhô những làn sóng lan dài, mây ri rác che tầm mắt.

Bất ngờ, cả hai chúng tôi đều nhìn thấy những làn nước trắng xoá trên nền biển xanh. Bay đến gần xem kỹ lại mới thấy nhiều chiến đỉnh của Hải Quân Việt Nam đang r sóng phăng phăng hướng ra hải phận quốc tế. Tuấn phấn khởi để nghị:

 -Niên trưởng, hy vọng mình có thể đáp an toàn trên một trong những tàu Hải Quân này!

-Đồng ý! Nhưng trên tàu phải có bãi đáp trực thăng.

Tuấn nhanh nhẹn ấn mũi con tàu, hạ dần cao độ. Tôi nhanh trí bảo Tuấn nên chọn chiến đỉnh nào lớn nhất, có bãi đáp (dấu hiệu ch H), vì thời lượng không cho phép chúng ta bay vòng vòng trên biển.

 Thao tác điêu luyện,Tuấn bay vòng quanh chiến đỉnh lớn nhất ở cao độ 300 bộ (100m).Thất vọng! Không có bãi đáp, chỉ thấy một số thủy thủ đoàn ùa ra  tươi cười vy tay chào, trên đỉnh kỳ đài lá cờ  vàng 3 sọc đỏ vẫn còn nghạo ngh tung bay.

 Bổng, Mayday! Mayday! Mayday! Tiếng  gọi cầu cứu khẩn cấp liên tục của phi công lâm nạn nào đó vang trong nón bay (có thể phi cơ hết nhiên liệu hoặc trở ngại kỹ thuật).Tuấn và tôi kinh ngạc, dáo dác nhìn chung quanh nhưng chỉ thấy trời nước mênh mông khi con tàu vừa đạt cao độ 1500 bộ, lấy hướng 2 giờ đi Côn Sơn.

 Vừa lúc ấy, nhiều tiếng gọi oang oang trên tầng số Guard (Emergency Frequency=243.0 MHz).Như bắt được vàng, Tuấn cho biết là tàu mình đang bay ở cao độ 1500 bộ, trong khi đó hợp đoàn trực thăng  7 chiếc do Trung tá Lâm (Đế) phi đoàn trưởng PĐ211, hướng dẫn đi Côn Sơn bay ở cao độ 3000 bộ.

 

Tuấn kéo tàu lên vào hợp đoàn, mặt mày tươi rói, quay sang mỉm cười:

-Mình hết “cô đơn” rồi niên trưởng!

-Ừ! Tụi mình hên thiệt, có chim đầu đàng dẫn đường thì còn gì bằng!

Hợp đoàn bay khoảng 30 phút, từ xa mờ mờ, ẩn khuất trong mây một chấm đen hiện lên rõ và to dần trên vùng biển bao la. Có tiếng reo vui của phi công nào đó trong hợp đoàn:

-Nhìn! Đảo Côn Sơn hướng 12 giờ kìa!

-Thoát chết rồi các bạn ơi!

-Anh em bình tĩnh! coi chừng”chém” vào nhau khi vào cận tiến. Có lẽ tiếng Tr/tá Lâm.

 Khoảng 15 phút sau, đảo Côn Sơn hiện rõ mồn một trước mũi tàu.(phi cơ).

-Niên trưởng yên tâm tôi thấy phi đạo rồi!

Tôi mừng quýnh, quay lại báo cho mọi người (khoảng 20 mạng đứng, ngồi chen như nêm cối!) Biết tin vui này, tất cả đều thở phào, hân hoan ra mặt.

 Tuấn nhẹ nhàng hạ càng trên bãi đáp, cánh quạt quay chậm lại  và ngừng hẳn (đúng 2giờ trưa ngày 30/4/1975, giờ mà tôi không bao giờ quên được!).

Một tràng pháo tay bất ngờ vang lên, vài anh em còn đến ng lời cám ơn phi hành đoàn (hơi ngượng vì mình chỉ là thợ vịn!) đã tận lực đưa họ đến nơi an toàn (không làm mồi cho cá mập)! Ít nhất là trong hoàn cảnh này.

 Chợt nhớ đến vợ, con và hai em còn ngồi trên tàu (trong tình trạng căng thẳng, nguy cấp, tôi quên bẳng gia đình) vội vàng nhào lên, ngạc nhiên thấy vợ, con đang ngồi thoải mái trên chiếc ghế bành, nệm ngồi bọc vải trắng tinh, nệm dựa lưng bọc nylon màu xanh dương trên đó có vẻ hai ngôi sao bạc và dọc hai bên bệ cửa trực thăng có trang bị hộp thuốc cấp cứu (First Aid Kits), vài chiếc áo và phao nổi màu cam nẹp sát vào thân tàu.

 Tôi tá hỏa tam tinh, buộc miệng kêu: Đây là trực thăng VIP (Very Important Person= Nhân vật tối quan trọng);  của tư lịnh quân khu chiến thuật, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam!(Thời gian nầy là tư lệnh vùng IV). Tướng Nam là vị tướng luôn luôn quan tâm đến chuyện bảo mật, đó cũng là để bảo đảm an toàn nên Ông ra lịnh phải để trực thăng riêng của Ông trong phi trường Trà Nóc thay vì để ngoài bộ tư lịnh quân khu, bản doanh đặt ngay trung tâm thành phố Cần Thơ.

 Thấy tôi hơi loạng quạng, vợ tôi ngạc nhiên hỏi:

-Anh vừa nói gì?

-Tuấn lấy nhầm trực thăng của tướng Nam rồi em ơi!(Trong cảnh hỗn loạn, đâu còn có sự lựa chọn!)

-Hèn chi con và em ngồi ghế này êm quá!

Vậy là lần đầu tiên chúng tôi được bay trên chiếc trực thăng riêng của một vị tướng lãnh và vợ con tôi lại là khách VIP bất đắc dĩ! Đó có phải là sự ngẫu nhiên hay đó là cái duyên gắn bó giữa Tướng Nam với cá nhân tôi cùng gia đình?

Vì cái duyên nầy mà tôi phải nợ Tướng Nam một lần nữa, vô hình chung, chiếc trực thăng định mệnh VIP của Tướng Nam đã gián tiếp cứu sống gia đình tôi cùng một số gần 20 người được may mắn lên tàu vào giờ thứ 25,  sau vụ đánh bom vào vị trí quân bạn ở Cái Lậy 

                                               ***

Trời Côn Sơn vào giờ này nóng như đổ lửa,dọc theo hai bên phi đạo ngắn, những chiếc lều nhỏ căng bằng poncho là nơi tạm trú cho những người  thân của nhân viên phi hành từ Biên Hoà, Tân Sơn Nhứt và Cần Thơ đưa ra(Chuẩn thuận của BTL/KQ), cộng với một số quân nhân và dân chúng địa phương khoảng độ 400 người.(Trong đó có phu nhân Tr/tá Trần Trọng Khương PĐT 122, Tr/tá Võ Trung Nhơn PĐT 124 và một số phu nhân và gia đình của các hoa tiêu phản lực cơ A37).

 Bổng có tiếng la báo động: “Coi chừng tù binh Việt Cộng phá nhà tù tràn vào phi trường giết chúng ta để trả thù bà con ơi!”. Thất kinh hồn vía, chúng tôi vội vàng tập hợp các quân nhân có mặt trên sân bay, đếm được khoảng hơn một trung đội, bên anh em bộ binh còn được trang bị súng M-16, phần không quân chúng tôi chỉ có súng ngắn P-38.

-Đại uý tính sao? Bất thần một Tr/uý Bộ Binh tiến đến hỏi tôi.(có lẽ vì tôn trọng cấp bậc?)

-Tôi KQ, không rành về phòng thủ, chiến thuật, chiến lược, chỉ mong Trung uý…

 Nói chưa dứt câu, lại nghe có tiếng nói oang oang của ai đó trong sự vui mừng Nhìn kìa!, có tàu đến đón chúng ta quý vị ơi!”.(Sau này mới biết trên phi trường lúc đó có một nhân viên CIA người Mỹ, là người hướng dẫn tàu đến rước chúng tôi, không phân biệt quân, dân. Đồng thời, ông cũng hướng dẫn Tuấn, Công và hợp đoàn Tr/tá Lâm bay ra hạm đội đang thả nổi ngoài hải phận quốc tế.)

Thế là, tất cả mọi người hiện diện trên sân bay đều hối hả đổ dồn về hướng biển cuối đầu phi đạo, nơi chiếc tàu vừa ủi bãi, cách bờ khoảng hơn 200 m.(bờ biển cạn tàu không vào gần được).

 Đợi mọi người lên tàu xong, thủy thủ đoàn cho biết là tàu sẵn sàng ra khơi. (Họ rất kiên nhẫn, vì sự chậm chạp của trẻ em, phụ nữ ).Tò mò đi dần đến phòng lái, mới biết nhóm tài công là người Phi Luật Tân. Nhìn thấy tôi (mặc áo bay, mang súng ngắn) họ lên tiếng vui vẻ chào bằng tiếng Anh. Tôi chào đáp trả và ngỏ ý muốn biết tàu nầy sẽ chạy về đâu.

-Big ship! Một người vừa trả lời vừa đưa tay chỉ về hướng hải phận quốc tế.

-U.S. ship? Tôi gặn hỏi, mong là đúng như vậy.

-Yeah! U.S. Navy ships. Anh ta xác nhận.

 Tôi mừng húm, trở về chỗ ngồi báo cho một số người biết tin vui trongđó có anh Trung uý bộ binh:

-Đai uý, không nên tin tưởng chúng!

-Vì sao?

-Nên cẩn thận!vì chúng có thể chở mình về đất liền, nạp cho Việt Cộng.

 Tôi giật mình hoảng sợ nhưng bình tĩnh, nhanh trí chỉ mặt trời đang ngả về hướng Tây (nếu Trung Úy vẫn còn nhớ những giây phút căng thẳng đã xảy ra cho chúng ta ngày 30/4/1975 trên đảo Côn Sơn).

 Nếu tàu chạy về hướng mặt trời lặn, anh em mình với số quân nhân có vũ khí đông đảo sẽ khống chế thủy thủ đoàn (khoảng 6 người), buộc họ phải chạy ra hải phận quốc tế. Tr/uý nghĩ thế nào?

Thế cũng ổn! Vậy để tôi thông báo cho một số quân nhân chuẩn bị nếu cần. (Đúng là cấp chỉ huy biết tính toán).

 Hú hồn! Mọi nghi vấn đều không xảy ra. Tàu rời bãi, tăng tốc độ phăng phăng lướt sóng, tách mũi ra khơi nhấm hướng đông chạy thẳng.

Nắng đã tắt dần, mặt trời đỏ hồng treo lơ lửng từ từ chìm xuống cuối đường chân trời. Gió lồng lộng thổi làn khí mát vào tàu, tuy tinh thần bớt căng thẳng nhưng cơn đói và mỏi mệt sau một ngày chật vật, tôi đặt người xuống sàn tàu thiếp đi lúc nào cũngkhông hay.

 Tiếng động ồn ào pha ln tiếng khóc của trẻ con làm tôi tỉnh giấc. Đồng hồ dạ quang trên tay chỉ hơn 5 giờ sáng. Nhìn sang bên cạnh, vợ con và các em vẫn ngủ im trong tư thế mệt mỏi, có lẽ vì say sóng.

Động cơ tàu vẫn nổ đều, âm thầm vượt sóng. Đứng thẩn thờ trong bóng đêm lòng buồn vời vợi, chạnh nghĩ đến kiếp sống lưu vong mai đây nơi xứ lạ quê người, với tương lai mù mịt đang chờ đón trước mặt.

Đi lần về hướng mũi tàu, dưới ánh sáng vàng vọt có một số quân nhân đang tụ tập.

-Nhìn kìa! Tàu mình sắp tới đất liền rồi!

Một giọng nói mừng rỡ vang lên:

-Thấy ánh đèn thành phố sáng rực chưa? Có lẽ là thủ đô Manila của Phi Luật Tân đó.

Thêm một giọng phụ họa:

Vừa đến gần (nhóm quân nhân của viên Tr/uý):

-Đại uý (trong hoảng loạn, chạy lánh nạn chỉ có một bộ áo bay dính da!) --Tới đây, nhanh lên! Xem kìa! Đại uý nghĩ sao?Một quân nhân hỏi.

Theo hướng chỉ, tôi thấy một vùng ánh sáng ẩn hiện nhấp nhô theo làn sóng.

-Tôi không nghĩ đèn điện của thành phố ven biển.

-Ánh sáng tỏa rực cả một vùng mà!

-Theo hiểu biết của tôi với vận tốc nầy, hải trình phải mất ít nhất là một tuần mới đến được thủ đô Manila hoặc vịnh Subic Bay (Căn cứ hải quân, Phi luật Tân), Tôi giải thích.

Vùng ánh sáng càng lúc càng lớn dần, lan tỏa lấp lánh như một thành phố nổi trên mặt đại dương.

 Tàu càng lúc càng tiến gần vùng ánh sáng, cùng lúc mặt trời vừa nhô từ đường chân trời, ánh nắng mai bừng lên soi sáng một vùng biển rộng.

-Ồ! Đệ thất hạm đội bà con ơi!

-Kìa! Nhìn kìa! Tàu Mỹ sẽ đón chúng ta?Có tiếng kêu vang trong sự ngạc nhiên ln vui sướng.

 Tôi cũng mừng rơn, nhìn kỹ đoàn tàu không phải chỉ có vài ba chiếc, mà cả hàng chục chiếc khổng lồ sừng sững dàn trải ngoài hải phận quốc tế. (Sau này mới biết Mỹ tôn trọng chủ quyền quốc gia, không xâm phạm lãnh hải VN, nên mướn tàu Phi luật Tân vào đón người tỵ nạn trên đảo ngày 30/4/1975).

Khi tàu chở chúng tôi vừa đến hải phận quốc tế thì được hướng dẫn đến cập vào hông một chiếc tàu màu xanh khổng lồ, cao như toà nhà 10 tầng mang tên Green Forest (Thương thuyền tư nhân chở khoảng 5000 – năm ngàn - người tỵ nạn được chánh phủ Mỹ thuê).

 Đa số mỏi mệt vì say sóng nhất là đàn bà và trẻ em, nhưng cũng cố gắng thu xếp chuẩn bị chuyển sang tàu lớn.Thang dây vừa được thả xuống. Tiếng ra lịnh oang oang của một quân nhân Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ qua loa cầm tay: “Chúng tôi yêu cầu những ai mang vũ khí đều phải vứt hết xuống biển!  Trẻ em, người già, phụ nữ ưu tiên lên trước”, được lập đi lập lại nhiều lần. Qua lời của một thông ngôn viên.

 Tất cả anh em quân nhân không ai bảo ai đồng loạt vứt súng qua thành tàu. Riêng tôi, mân mê khẩu P-38 đã bao năm gắn bó lần cuối cùng (súng là vợ, đạn là con!); giờ đành đoạn vứt đi trong nuối tiếc, hụt hẫng.

Phải mất gần 2 tiếng đồng hồ mới đưa được khoảng 400 người sang tàu lớn, chúng tôi là tốp thanh niên sau cùng đặt chân lên chiếc Green Forest cao sừng sững, khoảng 8 giờ sáng ngày 1/5/1975.

 Các khoang tàu đều chật nít người tỵ nạn, không tài nào chen vào được, nên gia đình chúng tôi buộc phải lên tầng thượng (boong tàu, khổ sở vì nắng mưa!).

Hình: Minh Họa

Đang lui cui
sắp xếp tìm chỗ tạm ngh cho gia đình, bổng thấy một thanh niên trạc 17 - 18 tuổi mang đến phân phát mỗi người một ly cháo lỏng (ly mốp). Hình như hơi ngạc nhiên, khi cậu ta nhìn thấy tôi vẫn còn mặc quân phục.

-Đai uý là quân nhân KQ?

-Đúng vậy!cậu là ai?

-Dạ! Em là một trong toán tình nguyện viên có bổn phận giúp đỡ những người mới được đưa lên tàu.

-Cám ơn các cậu nhiều. Tôi nói trong cảm động.

-Ủa! Em nghe nói không quân có tiếng bay nhanh, bay xa mà sao đại uý giờ này mới có mặt tại đây?

-Không đầy 24 tiếng đồng hồ sau lịnh đầu hàng của Tổng thống  Minh, giờ này anh có mặt tại đây là sớm chớ đâu có trễ mà cậu nói vậy.

-Xin lỗi Đại uý đừng giận, em nói thật, tụi em có mặt trên tàu nầy gần một tuần rồi.

-Thật vậy à! Bằng cách nào? Tôi hơi ngạc nhiên lẫn nghi ngờ.

-Không riêng gì gia đình em, mà cả làng được Cha xứ đưa từ Vũng Tàu ra đây. (Các Cha Xứ được chánh quyền Mỹ báo tin trước cả tuần).

Nhìn hàng nghìn, hàng nghìn người nhn nại đang chen chúc trên tàu, họ dứt khoát ra đi lánh nạn Cộng Sản, dù bỏ lại người thân, ruộng vườn, nhà cửa mà họ đã tốn biết bao nhiêu mồ hôi và nước mắt. Đó là cái giá của TỰ DO!.

 Mặt  trời lên cao đỏ hồng tỏa ánh sáng chan hoà trên vùng biển bao la, con tàu “CỨU TINH GREEN FOREST” nặng nề, chậm chạp, mang hơn 5.000 người tỵ nạn tiếp tục r sóng về hướng Đông; gió giật mạnh  từng cơn thổi vào hất tung những mái che dã chiếntrên boong tàu. Dù vậy, vẫn không ngăn được tiếng cười đùa râm ran của đám người tỵ nạn, kchạy tới, người chạy lui tạo ra một khung cảnh vô trật tự nhưng đầy phấn khích. Một người với vẻ mặt hân hoan:

-Đến đây là coi như an toàn rồi các bạn ơi!

-Đúng đó bạn! Tôi nghĩ tàu mình đang hướng về xứ Phi Luật Tân. Một người tỏ ra hiểu biết.

 Ngồi xuống cố tình chắn gió cho hai mẹ con, thoáng nhìn tôi bắt gặp nỗi sợ hãi vẫn còn phảng phất trên gương mặt. Quàng tay siết nhẹ vai nàng, trong tinh thần hưng phấn, tôi nói như reo:“Chúng mình thoát rồi em ơi!”.

Hai bờ vai rung rung, mím môi lặng lẽ trìu mến ôm chặt con vào lòng, nàng ngước nhìn tôi trong khoảnh khắc, bất giác hai giòng nước mắt sung sướng vỡ oà lăn dài trên đôi má.

Ba ngày sau, tàu cập bến hải cảng Subic Bay, Phi Luật Tân và từ đó người tỵ nạn được không vận bằng phi cơ C-130 đến đảo Guam đúng vào ngày 5/5/1975).

 Kính dâng Thiếu Tướng  Nguyễn Khoa Nam: Lời nguyện cầu hương linh NGÀI sớm tiêu diêu miền CỰC LẠC.

Thương mến tặng Đại uý Phạm Anh Tuấn, trưởng phòng hành quân PĐ213 Song Chuỳ, đã đưa gia đình “Niên Trưởng “ đến vùng đất TỰ DO.

 Thương về cố Trung uý Phạm Ngọc Hội đã gãy cánh trên chiến trường Mộc Hoá năm 1974.

 San Jose, California tháng 11/2020.

        kq. Nguyễn Thành Hưng.

   henrynguyen07@hotmail.com

 

 

 

 

 

 

 

         

Thứ Năm, 4 tháng 2, 2021

Bút ký: Phi Vụ Vượt Biên


KQ. Nguyễn Thành Hưng

Đã bao năm chim xa rừng nhớ núi,

Mơ ngày về lập lại những kỳ công.

Cánh chim bằng Thần Tiễn giữa non sông,

Cùng kình ngư Biển Đông trời dậy sóng. 

Thương về Bạn tôi Phi Tiễn Đặng Đình Phúc đã sớm lìa đàn trong ngục tù Cộng Sản.

Cuộc chiến chống Cộng Sản Bắc Việt vào những năm sau cùng  của Miền Nam Việt Nam đã bước vào giai đoạn mới: Chương trình Việt Nam hoá chiến tranh là một thuận lợi lớn cho lý tưởng đấu tranh của Q.L.V.N.C.H.

Các Quân Binh Chủng lúc đầu còn đầy đủ tiếp liệu như xăng nhớt đạn dược, nhưng bắt đầu thiếu hụt vào những ngày tháng chót… Riêng phần Phi Đoàn chúng tôi không bị hạn chế những phi vụ không thám và không yểm cho đơn vị quân bạn ở các tiểu khu hay Sư Đoàn bộ binh trong vùng trách nhiệm.

Trong khi đó, từ cuối Năm 1973 đến đầu năm1974 tình hình an ninh của nước láng giềng Cambodia, do Tướng Lon Nol lãnh đạo (1972-1975) suy sụp trầm trọng.

Về không yểm, KQ  Cambodia hoàn toàn tê liệt vì bị các đặc công Cộng Sản Khmer Rouge xâm nhập vào phi trường gài chất nổ phá hủy hầu như hoàn toàn, kể cả một số lớn các loại chiến đấu cơ MiG 17 và Skyraider AD4N mà KQ Cam Bốt sở hữu.

Vì sự sinh tồn của chế độ, Tướng Lon Nol vận động chinh phủ Hoa Kỳ can thiệp và yêu cầu Chính Quyền Việt Nam Cộng Hoà trợ giúp về không yểm. Bộ Tổng Tham Mưu đáp ứng yêu cầu của Cambodia ngay vì cho đó là “nhất cử lưỡng tiện”,  vừa giúp bạn vừa bảo vệ cạnh sườn phía Tây của Quân Khu III và Quân Khu IV (Các tỉnh thuộc miền Nam của VNCH, giáp ranh với Cam Bốt). Sư Đoàn IV Không Quân đặt bản doanh tại Trà Nóc, Cần Thơ, được chỉ thị nhận nhiệm vụ, thi hành trách nhiệm không yểm theo nhu cầu của chánh phủ bạn.

Do đó Phi Đoàn 122 Thần Tiễn của chúng tôi được chọn thi hành kế hoạch nầy.  Một ngày trung tuần tháng 11 năm 1973, Trung Tá Phi Đoàn Trường Trần Trọng Khương (Hoa Kỳ) triệu tập một buổi họp khẩn cấp để duyệt xét về khả năng không yểm một cách an toàn và hữu hiệu trên Xứ Chùa Tháp. Thành phần tham dự gồm các Hoa Tiêu và Quan Sát Viên gạo cội, già dặn, đầy kinh nghiệm chiến trường, đủ khả năng đảm trách những phi vụ vượt biên vào vùng đất lạ bên kia biên giới.

Th/Tá Từ Công Phước phi đoàn phó, (Cấp bậc cuối cùng là Tr/Tá chết trong trại tù Miền Bắc). Th/Tá  Nguyễn Chánh Hảo, Trưởng phòng hành quân (HK),  Các Đ/U: Nguyễn Trường Phước (HK), Đặng Đình Phúc (vượt ngục bị bắn chết), Nguyễn hữu Thoàn (HK),  Hồ Danh Lịch (Nhà văn KQ Kha Lăng Đa, HK), Phan thế Phiệt (HK),Trương công Tấn (phi cơ bị bắn rơi, gãy xương sống, bán thân bất toại VN),  Trương Kính Duy (HK) và tôi Nguyễn Thành Hưng (HK). Tám anh em chúng tôi lập thành 4 Phi Hành Đoàn (PHD 2 người) túc trực hành quân và thay phiên  nhau thi hành những phi vụ đặc biệt này.

Hai chiếc Cessna U17 được sử dụng là loại một động cơ cánh quạt 4 chỗ ngồi có tầm hoạt động xa 736 Miles (1177km). Tốc độ bình phi 130 Miles (200km/giờ) và có thể bao vùng hành quân từ 3 đến 4 giờ.

Thế là chúng tôi tuần tự luân phiên mỗi ngày một Phi Hành Đoàn,  6 giờ sáng cất cánh từ Phi Trường Trà Nóc, Cần Thơ bay sang Phi Trường Pochentong International Airport (Phnom Penh  International Airport). Thi hành những phi vụ đòi hỏi trong ngày đến 5 giờ chiều bắt buộc phải trở về lại Cần Thơ. (Lý do an toàn cho PHD và phi cơ).

Tại Thủ Đô Nam Vang, có một toán quân sự hỗn hợp Việt-Miên điều hợp mọi cuộc hành quân. Khi những đồn binh hay căn cứ  bị phiến quân Khmer Rouge (Khmer Đỏ) tấn công nặng cần không yểm thì ủy ban hỗn hợp Việt-Miên ra một Phi Vụ  Lịnh cho Phi Hành Đoàn (PHĐ) qua tầng số không lực FM (Frequency Modulation) sau khi cất cánh trên phi trình đến Mục Tiêu (tránh bị lộ).

Có một chuyện buồn cười, lần đầu tiên mình tới Xứ Khmer. Sau khi đáp an toàn PT Quốc Tế Nam Vang thì một Thiếu Tá Không Quân Hoàng Gia Cam Bốt lái chiếc xe dân sự PEUGEOT 504 ra rước PHĐ và nói toàn tiếng Phú Lảng Sa (Pháp). Bonjour  Mon Capitaine Comment Allez -Vous? Tôi và Đ/U Phúc bối rối vội vã trả lời  Hello! Hello! Good morning  Bien,  Tres-Bien! Merci beaucoup bằng vốn tiếng Pháp đã lâu không xài từ hồi Trung học!  Và Anh tự giới thiệu tên là Thạch Sôn. Chỉ huy toán Liên Hợp Cam Bốt.

Sau đó Anh đưa Phúc và Tôi vào ăn sáng (lẫn ăn trưa,  Chính Phủ Miên đài thọ) nhà hàng Tàu rất sang trọng tọa lạc giữa trung tâm Thủ Đô Nam Vang (lâu quá không còn nhớ tên). Trong lúc ăn sáng Phúc và tôi cố vận dụng Pháp, Anh Ngữ lẫn “thủ ngữ” cho một cuộc đối thoại làm thân bất ngờ và không hẹn nầy!     Rồi mọi chuyện cũng qua, đại ý Anh nói Chính Phủ Cam Bốt cảm ơn các Capitaine beaucoup! Et Beaucoup! Vừa thưởng thức món ăn ngon vừa nghe những lời giao hảo đầy thân tình, Phúc và Tôi cảm thấy ấm lòng.

Trên đường về Trung Tâm Hành Quân T/Tá Thạch Sôn ghé ngang chợ Trung Ương Nam Vang (như chợ Bến Thành Sài Gòn), định mua cái gì đó, chúng tôi ngồi trên xe đợi, khi về đến phòng,  Anh trao cho chúng tôi mỗi người một bao thơ mở ra 2 Carte Postale (Postcard) ảnh màu Hoàng Cung vua Norodom Sihanouk  và ảnh khu cổ tích đền thờ Angkor Wat  cộng với bằng ban khen từ vị Tư Lịnh Không Quân,  Cam Bốt.

Như đã hoạch định,  4 PHD chúng tôi luân phiên nhau có mặt bên Thủ Đô Nam Vang. Ngày nào cũng phải bay ít nhất 2 Phi Xuất, mỗi PX từ 3 đến 4 giờ và luôn luôn chở 2 quân nhân người Miên thường là một Sĩ Quan và một Hạ Sĩ Quan được trang bị máy truyền tin cá nhân để họ liên lạc thẳng với quân bạn dưới đất trong những lúc cần yểm trợ tiếp cận,  hướng dẫn   bộ binh, gom quân thất lạc, bảo vệ xa đoàn, bao vùng an ninh thuỷ lộ v.v…

Chúng tôi làm việc rất cực nhọc, lắm lúc lã cả người nên thỉnh thoảng Phúc càm ràm: Mẹ!  Ăn cơm Chúa chẳng bao nhiêu, mà phải múa phờ râu, xứ Chùa Tháp này đâu phải là dải đất Bình Yên!

Khoảng một tuần sau, cuộc chiến bùng nổ dữ dội, liên tiếp ngày nào cũng cần đến FAC (Forward Air Control = Điều Không Tiền Tuyến) là yêu cầu các  Khu trục cơ A-37 của KQVN cất cánh từ phi trường Trà Nóc, Cần Thơ lên đánh các Mục Tiêu, yểm trợ quân bạn, giải vây đồn bót mà Khmer Rouge sắp hay đã tràn ngập.

Ít khi chúng tôi bay Solo, có nghĩa là chỉ có PHĐ. Nhưng, sau đây là một “PHI VỤ SOLO LỊCH SỬ” trong đời bay bổng mà suốt đời tôi không bao giờ quên.

Số  là vào trung tuần tháng 11 năm 1973, ngày  hôm đó PHD chúng tôi cất cánh từ Cần Thơ đáp Nam Vang khoảng 7:30 sáng, thay vì đưa chúng tôi đi ăn sáng như thường lệ, họ đưa  thắng về TTHQ/Hỗn Hơp. Trong phòng họp, sĩ quan cao cấp Cam Bốt khoảng 5 người, sĩ quan Việt Nam 3 người.  Không khí có vẻ “Căng”,  tôi hoang mang tự hỏi không biết có chuyện gì xảy ra!

Trước  tấm bản đồ to treo trên tường, một sĩ quan cao cấp nhìn chúng tôi. Ông vừa nói vừa chỉ trên phóng đồ Hành Quân được tô đậm một ngôi sao đỏ thật to nằm chếch về hướng Đông Bắc Thủ Đô Nam Vang,  khoảng 80 km đường chim bay, và ông nói bằng tiếng Pháp:

“C’est-ici Khmer Rouge! Khmer Rouge!” Ông nhấn mạnh “Khmer Đỏ” ở đây! Và yêu cầu PHD ngày hôm nay túc trực tại Trung Tâm. Dĩ nhiên là chúng tôi phải chấp hành nghiêm chỉnh.

Thật là một ngày đầy căng thẳng, giờ phút trôi qua thật nặng nề. Tôi và Phúc đợi và đợi… Phòng HQ ngột ngạt, rồi bất ngờ đường dây Hotline reo vang, nhìn đồng hồ tay điểm 3 giờ chiều.

Thật là một ngoại lệ, nếu cần phi cơ khu trục yểm trợ giờ này có thể bất khả thi vì buổi chiều thời tiết thường không được thuận lợi. Phúc và Tôi vội vàng khoác áo mưu sinh thoát hiểm, đeo dây súng ngắn P-38, chụp túi nón bay. Ra khỏi phòng, đã có xe đợi sẵn phóng nhanh ra phi trường. Chúng tôi nổ máy, gọi đài không lưu Phnom Penh Tower yêu cầu cất cánh khẩn cấp.

Bình phi ở cao độ 8.000 bộ. Tôi gọi Trung Tâm Hành Quân trên  tầng số  FM  để tránh bị bại lộ; chúng tôi luôn nhận phi lịnh được mã hoá tất cả các nội dung trong đặc lịnh truyền tin trên phi trình đến mục tiêu.

– November Victor (Nam Vang), Thần Tiễn gọi.

– Thần Tiễn, November Victor nghe 5/5.

– Cất cánh được 10 phút trên đường đến mạnh mẽ, tư tưởng.(MT).

– OK!  Đây là tọa độ oanh kích. Gởi!

–  Sẵn sàng. Nhận!

Giải mã tọa độ và nội dung phi lịnh xong, tôi đánh dấu các chi tiết trên bản đồ. Trời! Trời! Xem kỹ lại mục tiêu không phải nằm ở hướng Đông Bắc mà ở phía Tây Bắc, hai vị trí cách nhau trên cả 100 cây số ngàn! (Chắc Ông này học sách lược của Việt Cộng, áp dụng lối Dương Đông Kích Tây!).

Chúng tôi vội vàng chuyển hướng phi cơ về Tây Bắc và hạ dần cao độ trên đường đến mục tiêu. Nhìn xuống những cánh đồng khô vàng nhạt xen lẫn màu xanh thẳm của xóm làng, những cánh rừng thưa, cây cối, nhà cửa nối tiếp nhau vùn vụt biến mất sau đôi cánh. Đây rồi! Tôi giật bắn người, lắc mạnh tay  lái, Phúc hoảng hốt bấm Intercom:

– Hưng, có chuyện gì?

– Phúc, Mày nhìn MT hướng 2 giờ kìa! Một ngôi chùa!

– Đúng! Một ngôi chùa thật uy nghi, tráng lệ phơi mình dưới nắng chiều, phản chiếu lấp lánh những mái cong màu đỏ thẩm sáng lung linh bao quanh bởi những hàng cây xanh biếc. Trước mặt Chùa là con đường có hai hàng cây chạy từ Bắc xuống Nam, xa hơn nữa là một hồ nước rộng, có những hàng cây xanh và bụi rậm mọc chung quanh, vùng đất thấp này nằm phía Nam không xa biển hồ Tonle’ Sap (hồ nước ngọt lớn nhất Đông Nam Á, vựa cá xứ Chùa Tháp).

Tôi bảo Phúc: mày lên 8500 bộ bình phi, tao liên lạc  với Trung Tâm Hành Quân để xác định lại mục tiêu, có thể họ gởi sai vì mình chưa bao giờ nhận một phi Lịnh quái đản như thế này!

– November Victor,  đây Thần Tiễn gọi.

-Thần Tiễn, November Victor nghe.

– Yêu cầu November Victor chuyển  phi lịnh một lần nữa, vì mục tiêu không đúng với thuyết trình buổi sáng!

– Chờ!

– OK!

– Chuẩn bị, Gởi.

-Sẵn sàng, Nhận.

Giải mã lần thứ hai thì mục tiêu vẫn là ngôi Chùa đó, nhưng tình báo cho biết thêm có nhiều viên chức cao cấp Khmer Đỏ trá hình khoác áo cà sa biến thành sư Cô, sư Ông, Hoà Thượng… tổ chức buổi họp mật tại đây.

-Thần Tiễn, đây Paddy. (Đài Kiểm Báo của Quân Khu IV đặc trách khí tượng, an ninh không phận Miền Tây, giáp xứ Chùa Tháp).

–  Thần Tiễn nghe, Paddy.

–  Bạn chuẩn bị FAC với Thần Báo 41: 2 A37 cất cánh từ CầnThơ. Liên lạc trên hệ thống UHF (Ultra High Frequency = Siêu Tần Số) sẽ đến với Bạn trong vòng 30 phút.

– Đáp nhận,  Paddy.

Phi cơ làm vòng chờ 360 độ (bằng cách bay vòng tròn, trên cao độ an toàn trong lúc chờ đợi khu trục) cách mục tiêu khoảng 10 dặm (tránh sự phát hiện của địch) về hướng Nam.  Lòng tôi rối như tơ vò, làm thế nào hoàn thành nhiệm vụ mà không phải phá hủy một ngôi chùa nơi thờ kính thiêng liêng nầy.  Một bên là quân lịnh, là quân nhân bắt buộc phải thi hành; một bên là con người có niềm tin sâu sắc về sự cứu rỗi mầu nhiệm của Đức Tin Tôn Giáo. Dù là Thánh Thất, Nhà Thờ hay  Phật Tự tất cả đối với tôi đều phải tuyệt đối tôn kính bảo vệ. Hơn nữa mình không thể cố ý hành động “THẤT ĐỨC”  trong trường hợp này!

Âm thanh rè rè trong nón bay.

– Thần Tiễn, đây Thần Báo 41.

– Nghe Thần Báo 41.

– Thần Báo 41:  2 A37 cất cánh từ Cần Thơ, trên đường đến,  cao độ 10.000 bộ, mỗi chiếc trang bị 4 bom nổ 250 cân Anh, 1500 viên  Minigun, 15 phút nữa chúng tôi tới vùng hoạt động.

– Thần Tiễn đáp nhận.

–  – – –

– Thần Tiễn đây Thần Báo 41.

– Thần  Tiễn nghe.

– Thần Báo 41 đang trên vùng xin bạn cho biết đặc tính mục tiêu.

OK! Thần Báo 41, Thần Tiễn hướng 11 giờ của bạn, cao độ 3000 bộ. Tôi lắc cánh để 41 nhận dạng. Bạn thấy tôi chưa?

OK!, Thần Báo 41 thấy bạn rồi.

Great! Mục tiêu oanh kích cố định là một khuôn viên Phật Tự hai bên trái phải và sau chùa có những hàng cây xanh to, ngoài xa là đồng trống và cây thấp, trong vòng bán kính 500 mét không có quân bạn và không có pháo binh tác xạ. Thời tiết tốt trên vùng, gusty winds from North to South, visibility about 10 Miles.  Trần mây trên 10.000 bộ. Gió giật nhẹ từ Bắc xuống Nam. Tầm nhìn xa 10 dặm.

A-37  Oanh tạc cơ tầm trung, có tầm hoạt động tối đa 920 Miles (1480 km.)  Tốc độ bình phi 480 km/giờ, Cao độ tối đa 12.765 m. Trang bị 6 bom 250 cân Anh (MT gần). 4 bom (MT xa + bình xăng phụ).

Trục tấn công của Thần Báo 41 từ Tây sang Đông. Break Left. FAC bên phải hướng Nam cao độ 3000 bộ.

– OK, Thần Báo 41 nhận rõ.

– Thần Báo 41, sẵn sàng chúng tôi vào đánh dấu mục tiêu.

Từ cao độ 3000 bộ Phúc nhẹ nhàng nghiêng cánh quẹo trái gắt, ấn mũi con tàu vun vút lướt nhanh xuống hướng thửa ruộng chạy dọc theo hàng cây phía bên phải ngôi Chùa.  Rẹt! Thân tàu rung nhẹ,  hỏa tiễn dài 2.5 m rời giàn phóng lao thẳng xuống.  Bùm! Một cột khói khổng lồ, trắng như bông vươn lên lơ lững giữa những thửa ruộng màu vàng nhạt.

– Thần Báo 41 thấy khói trắng đánh dấu Mục Tiêu của Bạn.

– Thần Báo 41! Thần Báo 41!  “Hold high and dry”.   “Giữ nguyên cao độ và không đánh bom!”   Tôi hốt hoảng và kinh ngạc gọi dồn dập khi nhìn thấy một nhóm người hoảng  loạn từ trong chùa túa ra có người mặc thường phục bản xứ nhưng đa số là Tăng Ni mặc áo cà sa vàng.

Nâng ống dòm quan sát, nhóm khoảng 30 đến 40 người tất cả đều chấp tay trước  ngực vừa ngước nhìn lên vừa bái lạy; và đồng thời khi phi cơ lượn vòng về hướng Bắc, tất cả họ đều đổ dồn chạy về hướng Bắc tiếp tục bái lạy. Khi chúng tôi đảo về hướng Nam họ lại dồn về hướng Nam và tiếp tục bái lạy như khẩn cầu chúng tôi đừng đánh bom vào Chùa.

Tôi điếng người khi nhìn thấy cảnh tượng bi thảm này! Nhưng tôi cố trấn bình tĩnh và trong giây phút của sự mặc khải, tôi quyết định chuyển mục tiêu, thay vì đánh bom vào chùa, tôi yêu cầu đánh bom vào những hàng cây xanh quanh chùa.

– Thần Báo 41.

– Thần Báo 41 nghe.

– Yêu cầu Bạn đánh (thả bom) ngay hàng cây xanh bên phải ngôi chùa.

OK #1 Rolling Hot, Break Left. 2 quả bom quay tít trên không trung rơi đúng hàng cây, khói bụi bốc cao mù mịt.

#2  Yêu cầu Bạn đưa về  trái 15 m từ điểm đánh của # 1.

#2  Rolling Hot, Off Left.

Tôi liếc nhanh về khuôn viên Phật Tự, không còn thấy bóng dáng nhóm Ni Sư quanh sân chùa nữa.

– Thần Báo 41, Thần Tiễn!

– Thần Báo 41 nghe.

Pass thứ hai yêu cầu bạn đổi trục Đông Tây đánh vào hàng cây bên trái,  giải tỏa Nam. FAC bay cao độ 3000 bộ Bắc.

– OK  #1  Rolling Hot,  off left.

–  OK  #1 Bạn đánh rất đep.  #2  từ  vị trí bom #1 Bạn đánh dài 10 m.

– #2  In  break  left.

– Thần Bảo 41, Thần Tiễn gọi.

– Thần Báo 41 nghe.

– Bạn nhìn thấy hàng cây phía sau Chùa?

– Thần Báo 41 thấy rõ.

Pass cuối cùng yêu cầu Bạn xử dụng Minigun bắn rải từ trục Bắc xuống Nam off Left, Thần Tiễn bay cao độ 3000 bộ hướng Tây

– #1 In And Off  Left.

– #2 in Break Left.

-Thần Báo 41, Thần Tiễn gọi.

-Thần Báo 41 nghe.

Cuộc oanh kích đã chấm dứt. Yêu cầu bạn làm vòng chờ trên cao độ. Chúng tôi vào quan sát thiệt hại của mục tiêu, (thật may mắn không có quả bom nào rơi trúng Phật Tự) OK! Tổng quát báo cho bạn, mục tiêu oanh kích đã bị phá hủy trên 50 %, và kết quả những thiệt hại về chi tiết sau khi quân bạn lục soát sẽ báo cáo thẳng đến Trung Tâm Hành Quân Hỗn Hợp. Cám ơn Bạn.

– Bye! Kỳ  này Thần Tiễn làm ăn xa.

– Thiên lôi mà Bạn, chỉ đâu búa đó mà!

Nhìn đồng hồ gần 5 giờ chiều, chuyển tần số, tôi gọi:

–  November Victor đây Thần Tiễn.

– November Victor nghe 5/5.

–  Phi vụ chấm dứt,  chúng tôi rời vùng, kết quả chi tiết nhờ November Victor lịnh quân bạn vào lục soát.

– November Victor đáp nhận. Chúc Bình An!

– Paddy đây Thần Tiễn.

– Paddy nghe 5/5.

– Chấm dứt FAC phía Tây Bắc Nam Vang chúng tôi rời vùng trên đường  “Trở về mái nhà xưa”.

– OK! Thời tiết quang đãng, mây rải rác, trần mây trên 10000 bộ, gió giật nhẹ hướng Đông Nam. Tầm nhìn xa 10 dặm. (Đó là tin tức khí tượng trên đường về Cần Thơ do Paddy thông báo).

Phi cơ chuyển hướng về biên giới Việt Nam, bình phi ở cao độ 9000 bộ.Tôi thở phào nhẹ nhõm sau gần 2 giờ căng thẳng. Nhưng lại phập phòng lo âu khi nghĩ đến mình không triệt để thi hành đúng như đặc lịnh truyền tin: “Đánh sập ngôi Chùa có cuộc họp mật”. Tội phản Quân Lịnh!  Sẽ bị khiển trách?  Cứ thế lãng vãng trong đầu…

Khoảng một tuần sau, trong khi đang ngồi vui vẻ cùng các Bạn tại Câu Lạc Bộ ở Trà Nóc, Cần Thơ, bỗng thấy cô tiếp viên đến bàn hỏi to: Xin lỗi bàn này có ai là Đ/U Hưng không?

–  Tôi đây.  Có chuyện gì không Cô?

– Dạ thưa có Sĩ Quan trực Phi Đoàn cần gặp ông.

Tôi vội vàng đứng dậy đi đến quầy tính tiền nơi có đặt điện thoại.

–   Đ/U  Hưng nghe.

–  Chào Đ/U, tôi T/U Vinh sĩ quan trực phi đoàn. Tr/Tá Phi Đoàn Trưởng vừa gọi cần gặp Đ/U vào lúc 4 giờ chiều nay tại văn phòng.

Cám ơn Vinh! Tôi cúp máy đứng như trời trồng, tim đập mạnh, đúng như những gì mình trăn trở trong suốt tuần qua “Bất tuân quân lịnh”. Tôi nghĩ thầm. Lòng buồn vời vợi, nhưng cố gắng lấy lại bình tĩnh quay trở lại bàn. Đám Bạn nhao nhao hỏi: Mầy làm gì mà mặt mày như đưa đám vậy!

Nhìn đồng hồ hơn 3 giờ chiều, tôi buồn bã đáp cộc lốc, tao về cư xá.

Cộc! Cộc!  Tôi gõ cửa văn phòng Tr/Tá Khương. Vào! Tiếng Tr/Tá Khương. Tôi mở cửa bước vào trình diện đúng quân cách. Ông chào đáp trả  và chỉ chiếc ghế mời ngồi. Ông nhìn tôi chậm rải hỏi:

  • Tuần vừa qua Anh có thi hành phi vụ FAC bên Tây Bắc Nam Vang phải không?
  • Dạ thưa cùng với Đ/U Phúc, trong tâm trạng bồn chồn lo lắng tôi vội vàng trả lời.
  • Theo đặc lịnh truyền tin mục tiêu phải thanh toán là ngôi chùa phải không?

–  Dạ, thưa đúng!

– Vậy mà ngôi chùa vẫn còn nguyên vẹn!

– Tôi không hiểu Tr/Tá muốn nói gì.

Như đoán được sự lo lắng của tôi,  Ông ôn tồn nhìn thẳng vào mặt tôi với nụ cười  trên môi:

  • Tôi vừa đi họp trên Không Đoàn về, có tin vui cho PHĐ và cũng là tin vui cho Phi Đoàn.

Không kềm được sự ngạc nhiên lẫn sung sướng Tôi hỏi dồn:

  • Xin Tr/Tá cho biết cụ thể là…là…
  • Là Anh đã đánh trúng MT, 8 chết, 10 người bị thương mà ngôi chùa vẫn còn nguyên vẹn.
  • Tôi mừng quýnh, ấp úng: Nghĩa là chúng chạy ra ngoài ẩn núp thay vì chạy trở vào chùa?
  • Đúng vậy, tin tình báo bên Miên cho biết thêm

3 trong 8 người chết là cán bộ cao cấp của Khmer Rouge.

Tôi bật dậy như lò xo, nghiêm chỉnh chào Ông:

  • Cảm ơn Tr/Tá đã giải tỏa bao lo âu của tôi trong suốt tuần qua.
  • Chúc mừng Anh và Đ/U Phúc. Tôi đã chỉ thị cho ban nhân viên phi đoàn làm thủ tục ân thưởng huy chương cho hai Anh.

Rời khỏi văn phòng Tr/Tá Khương, như trút được gánh nặng ngàn cân, lòng tôi phơi phới hân hoan, nhìn đồng hồ gần 5 giờ chiều, nắng vẫn chói chang trải dài trên phi đạo, tiếng cánh quạt trực thăng chém gió phành phạch lẫn tiếng gầm vang dội của những chiếc phản lực cơ trên đường trở về sau những phi vụ hành quân.

Giờ này chắc các bạn tôi bên phi trường Pochentong đang chuẩn bị phi trình. “Tung Cánh Chim Tìm Về Tổ Ấm”.

July 4th, 2020.

San-Jose, California.

KQ. Nguyễn Thành Hưng

Liên lạc Email: henrynguyen07@hotmail.com

TÂY NINH: CHÚT CÒN LẠI TRONG LÒNG NGƯỜI LÍNH TRẬN

 Tôi không sinh ra ở Tây Ninh, nhưng tôi đã có thể chết ở Tây Ninh, chết vì Tây Ninh, nhiều lần. Chữ chết hiểu theo nghĩa đen, chính xác, bởi vì tôi đến Tây Ninh với tư cách một người lính tác chiến trong những năm sống mái mất còn cuối cùng của cuộc chiến, mà tính chất ác liệt, kể cả về quân số tham chiến cũng như kỷ thuật chiến tranh đã lên đến mức cao nhất ở khắp các mặt trận. Với tôi, Tây Ninh như một quê hương thứ hai, một nơi chốn tràn ngập kỷ niệm, thấp thoáng niềm vui và giọng cười của tuổi thanh xuân và đầy ắp những ngậm ngùi của chia lìa, mất mát.



Tôi đến Tây Ninh lần đầu vào buổi sáng tinh mơ của một ngày đầu năm 1972. Đoàn convoy (đoàn xe) từ Phú Hòa Đông, Hậu Nghĩa đã di chuyển trong đêm để giữ tính cách bất ngờ, bí mật của cuộc hành quân. Tuyến xuất phát là rừng cao su Trà Võ. Tôi là một người lính mới được thuyên chuyển từ miền Trung vào. Người thiếu úy phụ tá đã chỉ vào phóng đố hành quân, có đánh dấu mục tiêu vừa cười vừa nói: “Ông coi chừng, lộ trình ngắn thế này nhưng không dễ nuốt đâu. Vùng mình sẽ qua là Rừng Sáu Mẫu, có khu Đám Lá Tối Trời ghê gớm lắm, máu của anh em mình đã đổ không biết bao nhiêu ở đây.”

Lời cảnh cáo của bạn tôi không sai, Tây Ninh đã đón tôi không mấy dịu dàng. Mưa pháo đủ loại đã dập nhiều đợt lên đầu chúng tôi ngay ngày đầu tiên. Rồi đột kích đêm, rồi xung phong tràn ngập trong những ngày sau đó, đoạn đường ba cây số đơn vị tôi phải gỡ trong bốn ngày mới ló đầu ra được con lộ nhỏ giữa rừng cao su Cầu Khởi, và người lính chưa kịp thở, và tôi chưa kịp nhìn Tây Ninh, đoàn convoy lại xúc lên và thả về một mặt trận khác ở Phú Thứ, Bình Dương.

Tôi bước xuống Tây Ninh ở bìa rừng cao su Trà Võ với những âu lo và trách nhiệm. Tôi rời Tây Ninh giữa bạt ngàn rừng cao su Cầu Khởi với một cõi lòng u uẩn, ngậm ngùi vì biết rằng hơn ba chục anh em tôi đang lăn lộn, đau đớn ở đâu đó trong các quân y viện lớn nhỏ và một số tương tự như thế đang ngủ yên trong những tấm poncho, cô đơn và lạnh lẽo trong các nhà vĩnh biệt.

Tôi không biết gì nhiều về Tây Ninh trong lần gặp gỡ đầu tiên này. Hôm đổ quân ở Trà Võ, hình như thấp thoáng phía xa bên trái quốc lộ là giòng sông Vàm Cỏ đang uể oải thức dậy. Hình như phố nhỏ đang rục rịch trở mình cho một ngày mới. Hình như khu chợ chồm hổm đã bắt đầu xôn xao tiếng nói cười. Hình như có những chiếc xe bò lọc cọc chở hàng bông từ các vườn ra lộ. Hình như quán cà phê đã mở cửa với những người khách ngồi gác chân lên ghế, đổ ly cà phê xây chừng ra đĩa vừa thổi vừa húp. Hình như có những đôi mắt nai buồn buồn của các nữ sinh Gò Dầu đang đứng sau các cánh cửa mở hé nhìn theo bóng những người lính đang lao về phía trước…

Tôi không nhớ được điều gì chắc chắn. Giờ đổ quân, đủ thứ liên lạc truyền tin léo nhéo trong máy. Tôi nhận lệnh: “Hướng ba giờ, bung rộng con cái, tàng hình.” Tôi hò hét lại những điều tương tự và chính tôi cũng phải tàng hình. Tôi không có nhiều thì giờ. Xin lỗi Tây Ninh, tôi không kịp nhìn bạn nhưng xin chào bạn, bạn đã đón tôi bằng những kinh hoàng và tiễn tôi với nhiều tang tóc nhưng tôi không trách bạn.

Bạn không muốn vậy đâu, phải không? Tôi hiểu bạn mà, chín mươi phần trăm người Tây Ninh ăn chay trường, một con kiến còn không dám giết nói gì đến sinh mạng con người. Nội cái cách bạn đặT tên cho các địa danh thôi, tôi cũng đủ hiểu bạn hiền lành chơn chất như thế nào, khiêm tốn tình nghĩa như thế nào. Thiện Ngôn: một lời ác còn không dám nói huống gì việc ác. Hiếu Thiện: ngỗ nghịch, dữ dằn hãy đi chỗ khác chơi, tên đất đã nhắc nhở với mọi người như vậy mà. Khiêm Hạnh… Tôi chịu bạn lắm Tây Ninh, ai mà khéo chọn cho bạn những cái tên hay hết chỗ chê. Ðiều quan trọng hơn là các bạn không chỉ đặt tên cho vui mà các bạn đã sống và hành xử theo những mẫu mực như thế, tôi tin chắn điều đó và thật lòng ngưỡng phục bạn. Xin được làm một người bạn của Tây Ninh, của Thiện Ngôn, Hiếu Thiện, Khiêm Hạnh…

Hãy lấy quốc lộ 15 là xương sườn, lấy Gò Dầu Hạ và Thị xã Tây Ninh là điểm chuẩn để mường tượng ra toàn cảnh Tây Ninh. Khi chiến tranh chưa bùng lớn, nhu cầu chiến thật chưa đòi hỏi phải thành lập thêm tỉnh Hậu Nghĩa, Tây Ninh bắt đầu từ Trảng Bàng với những hàng cây thốt nốt cao vút và những tô bánh canh lòng heo nổi tiếng. Rồi Tây Ninh phải đứt ruột cắt Trãng Bàng cho Hậu Nghĩa, để chỉ còn lại các quận Hiếu Thiện, Khiêm Hạnh, Phú Khương và Châu Thành.

Từ Gò Dầu Hạ, rẽ vào con đường đất đỏ bên phải, qua Suối Cao, căn cứ Đinh Bộ Lĩnh đến Khiêm Hạnh. Tiếp tục đi nữa sẽ tới Truông Mít, Ngã Ba Đất Sét. Từ đó, nếu rẽ phải qua Suối Ông Hùng, Bến Củi, Cổng Đen đến Dầu Tiếng. Nếu đi thẳng sẽ băng ngang một rừng cao su hun hút vắng tanh đến Cầu Khởi, đồn Bắc Tiến ra Chà Là. Tại đây, nếu quẹo phải sẽ qua Suối Đá, Núi Bà Đen. Nếu đi thẳng sẽ về Long Hoa, Toà Thánh.

Cũng từ Gò Dầu Hạ, nếu quẹo trái theo Quốc Lộ 1 sẽ lên Trà Cao, Gò Dầu Thượng tiếp tục qua biên giới. Suốt một dọc dài mút mù bên trái giòng sông Vàm Cỏ là những bưng biền xa tắp dẫn đến các mật khu Ba Thu, Mỏ Vẹt. Các căn cứ Trà Cú, Bến Kéo như một hành lang thép bảo vệ thủy lộ dẫn về Tây Ninh.

Từ châu thành Tây Ninh, qua chiếc cầu nhỏ phân chia khu hành chánh và khu thương mãi, nếu quẹo phải sẽ qua Cầy Xiên, Trãng Sụp, Trại Bí. Nếu đi thẳng băng ngang con phố chính, đường sẽ nhỏ lại và dẫn đến Trãng Lớn, Cao Xá, qua bến phà Phước Tân và đi lên nữa. Tất cả các ngã đường này đều dẫn đến vùng núi rừng biên giới với một dọc các căn cứ biên phòng heo hút và bất an: Thiện Ngôn, Bạch Đằng, Lạc Long, Hưng Đạo.

Tây Ninh chỉ có vậy, mỗi địa danh tôi nhắc đến đều đã có lần, hay nhiều lần, là bãi chiến trường. Chốn địa đầu giới tuyến này phải thường xuyên đối phó với một lực lượng lớn đối phương lúc nào cũng rình rập ở các an toàn khu bên kia biên giới. Tây Ninh có nhiều mật khu với một lực lượng xâm lược hùng hậu cùng một hệ thống tiếp tế, tiếp liệu được tổ chức qui mô và hoàn chỉnh. Tây Ninh như một cái gai chiến lược cần phải xóa đi và đã nhiều lần phải hứng chịu những trận đòn thù trí mạng trong sách lược xâm lăng của đối phương nên nó phải trải mình ra chống đỡ, phải đổ máu ra để sống còn, để bảo vệ cho từng người dân, từng tất đất của tổ quốc, của quê hương.

Tây Ninh khốn khó nhưng hào hùng. Tây Ninh khổ đau mà kiêu hãnh. Tôi cũng kiêu hãnh vì Tây Ninh, kiêu hãnh được góp máu với Tây Ninh. Thời gian lặn lội trên các chiến trường đủ để tôi quen với Tây Ninh, quen lắm. Tôi có thể cầm địa bàn lên chỉ đến chỗ nào có thể lấy nước giữa rừng cao su Cầu Khởi. Tôi có thể nhìn bản đồ vẽ một lộ trình khô ráo giữa đồng bưng lầy lội Trà Cú, Phước Chỉ. Tôi có thể đứng bất cứ chỗ nào ở Tây Ninh gọi pháo binh bắn hiệu quả mà không cần trái khói điều chỉnh. Người Tây Ninh tin là qua cơn khói lửa sẽ đến ngày mở Hội Long Hoa trong hòa bình, an lạc. Tôi muốn góp phần cho cái ngày vui đó.

Hải Đăng