Thứ Tư, 18 tháng 12, 2013

BÁO CHÍ VIỆT NAM CÓ TỪ BAO GIỜ? 
            TIẾN TRÌNH HÌNH THÀNH 
            VÀ PHÁT TRIỂN TRONG 
            NỀN VĂN HỌC NƯỚC NHÀ.
                                                                                                           

                                   HÀ ĐÌNH HUY

A.NGUỒN GỐC TRONG NƯỚC .

Thời xa xưa nước ta không có báo chí, sau khi Pháp sang các bậc trí giả của nước ta mới bắt chước Pháp mà viết báo. (theo Quốc Văn Trích Diễn của Dương Quảng Hàm, nhà xuất Bốn Phương)  Không kể những tờ báo bằng chữ Pháp và riêng về chữ quốc ngữ, thì phải nói rằng ông Pétrus Ký là người ký giả đầu tiên, ông tổ của nghề.(1) Năm 1867 ông Kerguda Thống Đốc Nam Kỳ tiếp xúc với ông Pétrus Ký ý định mời ông ra “làm quan” , nhưng ông một mực từ chối và chỉ xin được làm báo mục đích dùng ngòi bút để khai hóa quốc dân. Ông cho rằng trong suốt thời gian dưới chế độ phong kiến chính thống, và khi bị đô hộ bởi người Pháp, dân trí người Việt còn thấp nên chưa bắt kịp với đà tiến hóa của các nước Tây Phương. Lại nữa, nước ta luôn bị các cường quốc thời đó xâm chiếm và cai trị áp dụng “chính sách  ngu dân” về mặt tư tưởng dường như bị bóp nghẹt. Ông Pétrus Ký thấy được điều đó, nên tìm mọi cách để thông đạt kiến thức cơ bản đến người dân. Việc ông từ chối “ làm quan” đã làm cho viên Thống Đốc Nam Kỳ Kerguda, khó chịu, nhưng vì biết ông là một người có tài nên đành nương theo ý của ông. Nhưng sự yêu cầu của ông cũng không thực hiện ngay được. Mãi đến bốn  năm sau, ông mới được nhà cầm quyền Pháp ký nghị định ngày 19 tháng 9 năm 1869 sang tờ Gia Định Báo thành lập vào ngày 1 tháng 4 năm 1865 của ông Ernest Potteaux, thông ngôn trong chính phủ Nam Kỳ làm chủ nhiệm cho ông đứng tên làm chủ nhiệm. Và từ đó tờ Gia Định Báo theo thời gian được xem như là tờ báo bằng chữ quốc ngữ đầu tiên của người Việt và cũng là tờ báo tiên phong cho nền báo chí Nam Kỳ. 
Gia Định Báo khi về tay ông Pétrus Ký trở nên phong phú về mọi mặt tờ báo có thêm những bài biên khảo, nghiên cứu , nghị luận, truyện đời xưa , thi ca … và được nhiều danh sĩ nổi tiếng thời đó tham gia và nhiệt liệt ủng hộ. Các danh sĩ như : Hùynh Tịnh Của, Tôn Thọ Tường, Trương Minh Ký …có những bài viết sâu sắc nhắm vào sự khai phóng tư tưởng và nâng trình độ dân trí nước ta, nên nhà cầm quyền Pháp đã để ý và đã nhiều lần khuyến  cáo với ông chủ nhiệm Pétrus Ký về thái độ của tờ báo. Và từ sau sự khuyến  cáo, tờ Gia Định Báo với chủ nhiệm là Ông Pétrus Ký được xem gần như là một tờ công báo có hai phần rõ rệt. Phần đăng công văn của các nhà cầm quyền của Pháp và phần còn lại chỉ đăng những điều thường thức , tạp nhạp trong xứ. Có thể nói nghề làm báo của nước ta vào tiền đầu thế kỷ 20 mục đích chỉ có thông tin lặt vặt trong xứ và phần lớn là làm phương tiện cho chính quyền đô hộ dùng để thông báo hoặc ban bố những mệnh lệnh của họ. Báo chí không thiên về văn chương hay học thuật hoặc truyền tải ý tưởng của người dân.(2)
Ông Pétrus Ký tên thật là Trương Vĩnh Ký sinh năm 1837 và mất năm 1898. Người thôn Cái Mong, làng Vĩnh Thành, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long nay thuộc tỉnh Bến Tre, tinh thông Pháp Văn, Hán Văn và nhiều thứ tiếng ngọai quốc khác.Cha ông là Trương Chánh Thi. Năm 1840 mồ côi cha được một cố đạo nuôi, gởi qua học ở Pinhalu, Cao Miên. Năm 1851 học ở Penang. Năm 1858 về nước .Ông là một trong những người họp tác đầu tiên với Pháp. Năm1859:Thông sự cho Trung tá Jauréguiberry, chỉ huy trưởng Sàigòn. Năm 1862: Theo Simon ra Đà Nẵng, tham gia cuộc thương thuyết hòa ước ngày 5 tháng 6 năm 1862, nhường 3 tỉnh miền Đông cho Pháp. Ngày 21 tháng 6 năm 1863 Phan Thanh Giản và mộ phái bộ sứ thần qua Pháp xin chuộc lại 3 tỉnh miền Nam . Pétrus Ký là một phái viên của phái đòan Pháp phụ tá Aubaret, do Trung Tá Rieunier dẫn đầu.
1865 – 1872: làm báo. Năm 1866 – 1868: Dạy trường thông ngôn ( Collège des interprètes)  Năm 1877: Hội đồng Thành Phố Sàigòn. Tháng 12 năm 1886: Được Paul Bert cửû ra Huế, làm việc trong Viện Cơ Mật. Ngày 1 tháng 9 năm 1898: Chết tại Chợ Quán Sàigòn.(3)

Sự nghiệp văn chương của ông được đáng giá cao về mặt khai phóng qua các trứ tác : Chuyện đời xưa xuất bản vào năm 1866, chuyện khôi hài (1882) Miscelanées ou Thông Lọai Khóa Trình (1-12 - !888 – 1889). Grammaire de la lague annamite (1883) . Petit dictionaire Francais annamite (1884) . Cours D’histoire annamite, (1875 – 1877) Voyage au Tonkin en 1876. Chuyến đi Bắc Kỳ  năm Aát Hợi (1881).(4)

Sau tờ Gia Định Báo, nhiều tờ báo quốc ngữ đã hình thành và tăng trưởng theo một khuôn khổ nhất định, dưới sự kiểm duyệt của nhà cầm quyền Pháp. Tờ “Phan Yên báo” do ông Diệp Văn Cương làm chủ bút, được xem là tờ báo đứng thứ nhì về báo viết bằng chữ quốc ngữ trong Nam kỳ. Kế tiếp là tờ “Nông Cổ Ním Đàm “ của ông Cannavagio được nhà cầm quyền Pháp cho phép xuất bản vào năm 1901, và tờ báo này, ngoài ông Cannavagio là người Pháp làm chủ bút trước tiên còn có các ông Lương Khắc Ninh, Gibert Chiếu, Lê Văn Trung, Nguyễn Chánh Sắt, lần lượt nắm bút quyền.  
Bên cạnh 3 tờ báo quốc ngữ, ở Nam Kỳ cũng có một số tờ báo viết bằng Hán văn và Pháp văn do thủy sư đô đốc B. Bonard lập ra để nhằm mục đích tuyên tryuền. Ông cho phát hành 2 tờ “ Bulletin officiel de L’expédition de la Cochinchine” và Bulletin ommunes” 

B. NGUỒN GỐC BÊN  NGOÀI NƯỚC
Theo một số tư liệu gần đây, được phổ biến, và bài viết của ông Quán Chi Đào Trinh Nhất thì người Việt ở bên Xiêm (Thái Lan) đã biết làm báo từ thời vua Minh Mạng  và Thiệu Trị, nghĩa là từ thời phong kiến người Việt Nam đã biết làm báo, chứ không đợi đến khi Pháp vào đô hộ người Việt mới bắt chước Pháp mà làm báo. “ Biết lợi dụng, phổ thông quốc ngữ, vào việc làm báo làm sách cho công chúng, bắt đầu chính là người Việt Kiều ngụ bên Xiêm trước, rồi đến đồng bào trong Nam sau”.
 “ Nguyên xưa, người Việt Nam mình sang ở đất Xiêm khá đông vì lẽ hoạn nạn ở quê hương xô đẩy. Có hai hạng người , kết hợp thành xóm làng riêng: Một là: “ Cựu  Annam hương” – tiếng Xiêm gọi là Samphên – gồm những người theo đức Cao Hoàng sang từ trăm năm về trước ; hai là “ Tân Annam hương”  - Sansên – gồm những người theo đạo Thiên Chúa ở hai triều Minh Mạng và Thiệu Trị; trong nước có lệnh cấm đạo nghiêm khắc, họ trốn qua Xiêm rồi sanh tụ luôn ở đấy. “ Nhóm cựu Ananam hương  đã hoàn toàn hóa bản xứ , nhất thiết ngôn ngữ , phong tục , không còn chút gì vấn vương cố hương . Duy nhóm Tân Annam hương thì còn giữ được phần nhiều bản sắc , tuy sự sinh họat có thay đổi theo hoàn , nhưng tiếng mẹ đẽ vẫn không lãng bỏ, lại cố tình đùm bọc quây quần với nhau là nhờ vào sức tôn giáo”.  Họ nhận thấy chữ quốc trên đà phát triển trong nước và thấy sự ích lợi của nó nên họ nhờ Đức Giám Mục Bá Đa Lộc mở mở ra ở Vọng Các một nhà in để in sách quốc ngữ truyền bá trong đám kiều bào. Ngoài  ra, họ còn lại in một tập kỷ yếu gần như  tạp chí xuất bản  bất thường ghi chép những việc quan hệ trong giáo hội và dân gian, cho các đạo hữu cùng biết. 
Qua trên cho thấy, không đợi đến khi Pháp vào người Việt mới bắt chước Pháp mà làm báo như trong quốc nội. Người Việt ở nước ngoài đã biết làm báo từ thời phong kiến, mặc dù không có tính chuyên nghiệp, đã chứng tỏ người Việt ta có tính sáng tạo độc lập. Dù lưu lạc ở xứ người nhưng tính dân tộc : cần cù, siêng năng, và cầu tiến luôn luôn là kim chỉ nam cho định hướng phát triển tương lai của mỗi người Việt. Nhóm người Việt ở Thái Lan đã tạo cho mình một chỗ đứng có giá trị nhất định trong lịch sử văn học, tiên phong góp phần cho sự khai sáng  nền báo chí nước ta.
Trong khi người Việt ở Thái Lan làm báo trong tinh thần độc lập, thì trong quốc nội nền báo chí của người Việt cũng đang hình thành và khởi sắc mạnh mẽ, chính quy hơn, nhưng hầu như mọi liên hệ đến báo chí đều bị người Pháp chỉ đạo hoặc có sự họp tác của họ bằng hình thức này hay bằng hình thức khác.
Ở Nam Kỳ, vì là thuộc địa nên hình thức báo chí có tính rập khuôn theo  kiểu của báo chí Pháp. Ba tờ báo được xem như là tiên khởi cho nền báo chí trong Nam Kỳ là Gia Định Báo, Phan Yên Báo và Nông Cổ Ním Đàm hình thức không khác một tờ tin tức , của chính quyền địa phương Pháp ở các nơi xa thủ đô Paris. Còn phần nội dung, cũng không khá hơn vì trong đó nhà cầm quyền thuộc địa Pháp đã gởi gắm nhiều dụng ý vào bên trong , nên mất đi tính tự quyết. 
Sau ba tờ báo có tính tiên phong trên, ở Nam kỳ còn có thêm một số tờ báo nữa như tờ Nhật Báo Tỉnh  do ông Georges Garros sáng lập sáng lập , bộ biên tập gồm các ông Gilbert Chiếu, Thái Chiên Đinh và Nguyễn Quang Phong. Tờ Nam Kỳ Kinh Tế  của bà Rose Quintaine, tờ Lục Tỉnh Tân Văn, và Nam Trung Nhật Báo do ông Schneider vào Saigon lập ra, sau khi tờ Đông Cổ Tùng Báo ngòai Bắc đình bản. (Có thể nói các báo thời kỳ này, hầu hết là người Pháp khaisáng , đứng tên xin phép rồi cho người Việt thuê lại, công khai cho mướn nhà phố)
Ở Bắc kỳ, vì là đất thuộc bảo hộ, nên việc hình thành báo chí chậm hơn trong Nam. Tờ báo đầu tiên ra đời viết bằng chữ quốc ngữ là tờ Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo và sau này đổi tên thành Đăng Cổ Tùng Báo có vào đầu thế kỷ 20. Tờ báo này có hai phần: phần chữ quốc ngữ do ông Nguyễn Văn Vĩnh phụ trách và phần Hán văn do ông Kiều Oanh Mậu biên tập. Tờ này, chủ vẫn là người Pháp. Tờ báo thứ nhì ra đời ở Bắc kỳ là tờ Đại Việt Tân Báo do ông Ernest Babut xuất bản và chủ bút là ông Đào Nguyên Phổ. (Theo sách ghi lại : Đào Nguyên Phổ là người hiểu được tư tưởng Âu Tây qua những tân thư bên Tàu gởi qua. Trên Đại Việt Tân Báo ông cùng mấy nhà nho tân tiến, thường giải thích cho độc giảbiết về nghệ thuật mới và cổ võ sự canh tân xứ sở.)
Tóm lại, đứng trên phương diện cho nghề nghiệp:trong giai đọan đầu của báo chí Việt Ngữ , ba tờ báo ngoài Bắc và ba tờ báo trong Nam kỳ đã mở đường, khai lối cho nghề viết báo nước nhà.

C. BÁO CHÍ NƯỚC TA TRONG GIAI ĐỌAN PHÁP THUỘC
Nền báo chí nước ta trong giai đọan Pháp thuộc, hầu như không có tính độc lập và tự quyết, bởi các tờ báo đều do người Pháp khai sáng và làm chủ, hoặc xin giấy phép rồi cho người Việt mướn lại, nhưng việc mướn lại cũng có quá nhiều nhiêu khê về thủ tục hành chánh cũng như về mặt  an ninh.
Năm 1913, khi có cuộc ném bom tại “Hà Nội Hotel” nhà cầm quyền Pháp thấy được mần mống chống đối và bài Pháp của người Việt, nên vội vàng đưa tên Schneider ra Bắc lập một tờ báo mục đích của họ là chiêu dụ người dân . Tờ Đông Dương Tạp Chí ra đời trong hoàn cảnh như vậy. Tờ báo này giao cho một người Việt uyên bác làm chủ bút và dưới ông là một ban biên tập gồm những nhà học giả uyên thâm như Phạm Quỳnh, Phạm Duy Tốn, Trần Trọng Kim và Phan Kế Bính….
Ngày 1 tháng 6 năm 1915 ông Nguyễn Văn Vĩnh rời tờ Đông Dương Tạp Chí đứng ra thành lập tờ Trung Bắc Tân Văn, nhưng cũng do tên Schneider đứng tên trên giấy phép. 
Trong giai đọan này, báo chí nước ta có thể chia từng giai đọan sau đây:
1) Giai đọan chiến tranh Âu châu.
a) Giai Đọan lệ thuộc
Báo chí nước ta trong giai đọan đầu, tờ báo dù có viết  bằng tiếng Pháp, tiếng Hán hoặc  tiếng Việt đi chăng  nữa cũng chỉ là lợi khí tuyên truyền của người Pháp, vì do người Pháp trực tiếp điều khiển, hoặc do người Việt được Pháp tín nhiệm giao cho chỉ huy. 
Trong Nam Phong Tạp Chí, với chủ trương đem học thuật Tây Phương vào nền văn hóa nước nhà, Phạm Quỳnh có những bài viết nghiên cứu học thuật nước Pháp, không ai có thể phủ nhận công phu của ông và lợi ích . Mặt khác, Phạm Quỳnh với Nam Phong Tạp Chí chủ trương cổ xúy cho việc  tôn vinh vua Khải Định và nhà cầm  quyền Pháp. Có lẽ, các độc giả thuộc những thế hệ trước không quên những câu thơ  nồng nhiệt như : “ Rồng Nam phun bạc ! Đánh đổ Đức tặc” nhằm ca tụng việc nhà nước Pháp ở Đông Dương mở những công khố phiếu ( có sách gọi là Công Thải) để lấy tiền cho Chính quốc chống Đức Quốc Xã.
Đông Dương Tạp Chí cũng không xa với Nam Phong Tạp Chí về mặt chủ trương: Những số báo đầu tiên, Đông Dương Tạp Chí chưa rõ nét về mặt văn học, phần lớn những bài viết đều nhắm vào tuyên truyền cho Pháp. Và đã kích các phần tử yêu nước của ta như việc số báo xuất bản trong tháng năm 1913. Báo đã kích việc ném bom vào khách sạn Hà Nội đã làm hại cho một số viên chức người Pháp, và báo cũng đã đề cao vai trò của Hội Đồng  Đề Hình , một tòa án đặc biệt được Pháp lập ra để xử các nhà cách mạng Việt Nam đã bị bắt trong vụ ném bom ấy.
b) Giai đọan tự lực
Cũng giống như Nam Phong Tạp Chí giai đọan đầu đều nhắm vào mục đích tuyên truyền cho Pháp, nhưng về sau là giai đọan nghiên cứu và phổ biến văn học . Từ sau năm 1919, khi báo chí trở thành việc kinh doanh và được nhà cầm quyền Pháp cấp giấy phép, một số người Việt đã tự lực ra làm báo, từ đó báo đã có chủ trương mới. Ông Nguyễn Văn Vĩnh được ông Schneider nhượng lại tờ Trung Bắc Tân Văn. Trong khỏang năm 1920 – 1921, có thêm hai tờ nhật báo ra đời: tờ Thực Nghiệp Dân Báo của ông Nguyễn Hữu Thu ( sau nhường lại cho ông Mai Du Lân) và tờ Khai Hóa của ông Bạch Thái Bưởi, do ông Lê Sĩ Tố làm chủ bút.
Trong giai đọan tự lực, nhưng người Việt làm báo vẫn phải chịu dưới sự theo dõi gián tiếp của nhà cầm quyền Pháp. Nhưng các nhà báo của ta thời đó một đôi khi tác giả cũng cố gắng viết kín đáo để phát biểu vài tư tưởng ít xu thời.
Tờ Lục Tỉnh Tân Văn khi vào hẳn tay của ông Huyện Của ( Nguyễn Văn Của) thì việc tuyên truyền cho người Pháp bớt hẳn đi và khi có tờ Tribune Indigène xuất hiện do ông Nguyễn Phú Khai chủ trương thì báo đã trở thành một cơ quan tranh đấu cho quyền lợi người Việt Nam, đồng thời tờ Đông Pháp Thời Báo do ông Nguyễn Kim Đính ra đời và hai tờ này đã có khuynh hướng bênh vực cho người Việt Nam, nên làm cho nhà cầm quyền Pháp rất lo sợ.
2) Giai đọan sau chiến tranh Âu Châu
a) Thời kỳ tiền phát triển
Thời kỳ này vào khoảng những năm 1925 – 1927, Báo chí hầu  như  ít phụ thuộc vào nhà cầm quyền Pháp cũng như người Pháp làm báo. Báo chí phần lớn do sự điều khiển của người Việt, nên khuynh hướng quốc gia đã được thể hiện qua báo chí và đã trở thành một phong trào bộc phát từ Nam ra Bắc. Người dân được kích thích lòng ái quốc qua báo chí và báo chí đã cổ xúy nồng nhiệt vào kết quả này. Trường hợp của cụ Phan Bội Châu là một điển hình về sự tranh đấu của báo chí đối với việc đòi trả tự do cho cụ . Mặt khác báo chí đã góp phần tích cực đưa thuyết dân trị của cụ Phan Chu Trinh  đã thức tỉnh đồng bào bằng những tư tưởng dân chủ. Có thể nói báo chí Việt trong thời kỳ này đã thể hiện rõ tính phát triển của nó qua hướng dẫn dư luận để đến những cuộc tranh đấu thắng lợi cho người Việt. Về mặt hình thức tờ báo cũng đã được trang trí đẹp mắt hơn thời kỳ còn người Pháp làm chủ, nhưng nhìn một cách khách quan thì báo chí Việt Nam ta trong giai đọan này vẫn còn những khuyết không ít về mặt kỹ thuật và nội dung dù có phát triển tuy vẫn còn chưa đủ các bài viết sâu sắc để cho trình độ dân trí thời đó tiếp thu được.Tóm lại về mặt thông tin và tin tức chưa có cập nhật hóa đúng mức.
Thời kỳ phát triển hay thông tin 
Mãi đến sau năm 1929, thì báo chí Việt Nam mới trổi mình, nghĩa là tờ báo có tương đối đầy đủ các mục đặc biệt là mục tin tức và nghị luận … và việc phát hành ấn lóat trở nên qui cũ sáng sủa.
Trước năm này,báo chí ít lưu tâm đến tin tức và những bài viết bình luận. Tin tức và thông tin dường như các báo bị xao lãng . Tờ báo chỉ dành chở để đăng thơ, tiểu thuyết nhiều hơn. Năm 1930 ông Ngô Văn Phú chủ trương tờ Đông Pháp dã tổ chức thành một tờ tin tức thông tin chuyên nghiệp bao gồm tin thế giới và trong nước. Song hành với tờ Đông Pháp, tờ Hà Thành Ngọ Báo cũng mở ra một đường lối mới trong nghề viết báo. Các ông Bùi Xuân Học, Hòang Tích Chu, Đỗ Văn, Phùng Bảo Thạch và Vũ Đình Chi đã đưa tờ Hà Thành Ngọ Báo trở nên một bộ mặt mới về cách trình bày, sáng sủa , ấn lóat rõ ràng, đăng những bài ngắn , tin tức rõ rệt, điều tratại chỗ, theo đúng như phương pháp làm báo ở Pháp mà họ Hoàng đã nghiên cứu khi còn ở Paris. Hoàng Tích Chu còn tung ra một lối văn ký sự rất mới, gọn gàng vắn tắt.Khi họ Hoàng tung ra lối viết ngắn gọn , rõ ràng thì làng báo ở Bắc Hà sôi nổi như là có cuộc cách mạng lớn . Và không tránh khỏi những sự công kích của các nhóm khác. Tuy nhiên cũng có nhóm ủng hộï và bắt chước lối làm báo của họ Hoàng. Có thể nói Hòang Tích Chu đã có công canh tân lối văn viết báo.
Song hành với làng báo miền bắc thời đó, trong miền nam cũng có những người làm báo nổi tiếng có tinh thần quốc gia như các ông Diệp văn Kỳ  và Nguyễn Đức Nhuận (xin bạn đọc đừng lầm ông Nguyễn Đức Nhuận Phú Đức hay ông Nguyễn Đức Nhuận Bút Trà). Đầu tiên khởi sự làm báo ông Diệp Văn Kỳ mướn tờ Đông Pháp Thời báo sau đó được giấy phép mở ra tờ Thần Chung. Diệp Văn Kỳ là người biết trọng dụng người tài nên không lâu giới trí thức cựu và tân đều đến họp tác với ông . Và tờ Thần Chung bị đóng cửa vì nêu cao tinh thần quốc gia dân tộc. Kế tờ Thần Chunglà tờ Phụ Nữ Tân Văn , tờ báo này xứng đáng là một tờ báo thông tin , ngôn luận cho phụ nữ học tập từ Nam ra Bắc, nhưng cũng bị rút giấy phép vì dám nói lên sự thật , chống lại ông Bùi Quang Chiêu dính líu đến nhóm lý tài Homberg. Sau tờ Phụ Nữ Tân Văn , còn có nhiều tờ báo khác ở Nam kỳ như tờ Công Luận Báo, Trung Lập Báo…cũng có tinh thần quốc gia rõ rệt.
Tại Bắc Kỳ, có những tờ báo chuyên nghị luận như tờ Đông Phương của ông Lavalée, và sau này nhường lại cho ông Mai Du Lân. Tờ Phụ Nữ Thời Đàm của ông Nguyễn Văn Đa, khởi sự ra hàng ngày, do ông Ngô Thúc Địch  làm chủ bút, và hàng tuần với bút quyền ông Phan Khôi
Các tuần báo, cũng có tờ Phong Hóa do nhóm Tự Lực Văn Đoàn chủ trương, đứng đầu là Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Với Phong Hóa nhóm này đặt ra châm ngôn: “ Lấy cười cợt mà sửa đổi phong hóa”, dùng thể tài trào phúng , dùng văn chương, hí họa để giễu cợt , những hủ tục trong xã hội. Tuy rằng có những giới hạn nhất định, nhưng có thể nói, thời kỳ này báo chí nước ta có khuynh hướng tăng trưởng về phẩm chất. Và tờ Phong Hóa và Ngày Nay đã góp công một phần tô điểm cho nền văn học cận đại.
 Trong khi báo chí miền Bắc và Nam Kỳ đang đà phát triển, ở Trung Kỳ về báo chí thì chậm hơn . Hai tờ Tiếng Dân của cụ Hùynh Thúc Kháng và Sông Hương của Phan Khôi tuy không phát triển , nhưng cũng đã cầm cự và sống trong suốt mấy mươi năm. Tờ Tiếng Dân kéo dài được 20 năm vì nhờ vào tài quản lý khéo léo của các cộng sự viên, đồng thời nhờ vào uy tín của cụ Hùynh Thúc Kháng.
3) Giai Đọan Báo Chí Bị Đàn Áp
Giai đọan này vào những năm 1936 – 1939. Ở nước Pháp chính phủ Léon Blum của giới bình dân lên cầm quyền và hứa sẽ gởi một phái bộ sang các thuộc địa lập một “ ủy ban điều tra” về các vấn đề thuộc địa. Vì vậy dân chúng Việt Nam lập ra một “ủy ban hành động” trong các giới để thu thập dân nguyện hầu triệu tập một “ Đông Dương Đại Hội” để tiếp xúc với “ ủy ban điều tra” từ  Pháp phái sang. Báo chí đóng giai trò quan trọng trong việc thông tin tuyên truyền cho việc thành lập “Đại Hội Đông Dương”. Ngoài tờ báo LaLutte là một tờ báo đã có quá trình tranh đấu cho người dân thuộc địa. Ở Hà Nội cũng có tờ Letrvail cũng lên tiếng mạnh mẽ ủng hộ cho quan điểm của người dân. Các tờ nhật báo ở Saigon như tờ Điện Tín của Lê Trung Cang, Tờ Việt Nam của ông Nguyễn Phan Long, tờ Saigon của Bút Trà, tờ Ngọ Báo của Bùi Xuân Học , tờ Đông Pháp của Ngô Văn Phú đều đăng những tin tức liên quan đến phong trào “ Đông Dương Đại Hội”. Và một số tờ báo khác cũng ngấm ngầm cổ động cho cho việc thâu tầm dân ý, dân nguyện.
Với một hệ thống báo chí cả nước thông tin như vậy, các tờ báo của Pháp đã đưa vội những tin tức và cố ý xuyên tạc ý nguyện của người dân Việt Nam là làm như là “ có một cuộc khởi nghĩa” , nên Bộ thuộc Địa đã chỉ thị cho Toàn  quyền Đông Dương đàn áp phong trào. Từ khỏang tháng 6 đến tháng 9 của năm 1936, nhà cầm quyền thuộc địa cho đóng cửa một số tờ báo ở hai miền Nam và Bắc. Các tờ báo đầu tiên bị đình bản là: Ngọ Báo, Hồn Tre,û Phong Hóa, Khỏe, Việt Nam và Dân Quyền…
Vào tháng 7 năm 1937, toàn quyền Brévie đã thẳng tay đàn áp báo chí đóng cửa thêm một số tờ báo nữa như tờ: Tiếng Trẻ, Nhành Lúa, Tương Lai, Nữ Lưu, Thế giới, Tân Văn, Đuốc Nhà Nam …
Sự đàn áp không ngừng ở chỗ là rút giấy phép, toàn quyền Brévie còn dùng biện pháp thâm độc hơn nữa là trục xuất ký giả. Vụ trục xuất ký giả xãy ravào tháng 12 năm 1936, khi có cuộc bầu cử đại biểu vào” Thượng Hội Đồng Thuộc Địa”. Chính phủ thuộc địa Pháp ủng hộ ông Bùi Quang Chiêu, trong khi Hai ký giả Diệp Văn Kỳ và Bùi Thế Mỹ, kiêm chủ bút hai tờ Việt Nam và Địên Tín thì lại chống đối và có bài viết công kích kịch liệt ông Chiêu, nên đã bị Thống Đốc Pagès ký nghị định trục xuất về miền Trung không cho lưu trú ở Nam Kỳ. Năm 1937, ông Trần Đình Long một ký giả miền Bắc vào Nam thăm bạn cũng đã bị nhà cầm quyền Pháp đưa về nguyên quán. Bệnh cạnh trò thâm độc là trục xuất ký giả, nhà cầm quyền Pháp còn đưa một số ký giả ra tòa. Năm 1939, ông Nguyễn Văn Sâm, chủ nhiệm tờ Đuốc Nhà Nam kiêm chủ tịch hội Liên Hữu Báo Chí (AJAC) là người tích cực tranh đấu cho tự do báo chí đã bị đưa đi an trí ở Sóc Trăng.
Bị nhà cầm quyền Pháp thuộc đàn áp báo chí, vì người làm báo Việt Nam ( có lương tâm và ái quốc) đã dám nói lên tiếng nói tranh đấu cho một  dân tộc bị trị, và cứ người này đến người khác , báo này đến báo khác, dấy lên tiếng nói quyết tâm và trở thành phong trào “ dám viết bài chống đối, đấu tranh” , cho nên báo chí Việt Nam giai đoạn này cũng được xem là giai đọan ưu thịnh nhất.
4) Giai Đoạn Trong Và Sau Thế Chiến II
Kể từ sau năm 1939, nền báo chí nước ta càng bị bó buộc thêm, vì nước Pháp bị Đức Tấn công, Bộ Thuộc Địa Pháp xiết chặt chế độ kiểm duyệt, báo chí không được tỏ bày ý kiến gì độc lập. Tình trạng khủng hoảng kinh tế của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, cộng với sự thiếu hụt giấy in báo, làm cho số báo xuất bản bị rút bớt đi đưa đến sự khó khăn vô cùng. Mãi đến khi Nhật đảo chánh Pháp vào tháng 3 –1945, thì sự khó khăn mới có hướng tương đối giải tỏa, các báo được tiếp tục ra, vì người Nhật muốn có sự tuyên truyền về chính sách của họ, nên khuyến khích và trong thời điểm này có nhiều tờ báo mới xuất hiện. Nhưng rồi sau khi Nhật bại trận, Pháp trở lại miền Nam, các tờ báo của người Việt  lại bị đóng cửa hết, chỉ có hai tờ báo mới được xuất bản thời gian sau đó là tờ: Tương Lai và Phục Hưng. 
Năm 1947, dưới hai thời chính phủ tự trị Nguyễn Văn Thinh và Lê Văn Hoạch, thì báo chí nước ta lại khá phát triển, nhưng phần lớn đi sâu vào những phong trào kháng chiến , hoặc chủ trương thương thuyết với Pháp trong một giải pháp chính trị. Khi Việt Minh lên cướp chính quyền cũng có chủ trương và cho xuất bản nhiều tờ báo như Cứu Quốc với khuynh hướng chính trị rõ rệt. Các đảng phái quốc gia cũng có chủ trương những tờ báo riêng . Ông Khái Hưng ra tờ Việt Nam là cơ quan ngôn luận chính thức cho Việt Nam Quốc Dân Đảng, lập trường rõ rệt là chống Việt Minh. Các tờ , Thiết Thực, Đồng Minh, Vì Nước , Độc Lập cũng có lập trường ít nhiều chống Việt Minh. Ngoài ra những tờ báo cũ sau này cũng đổi tên khác như tờ Đông Pháp đổi thành Đông Phát và tờ Tin Mới đổi thành Dân Quốc.
Khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, báo chí Việt Nam không còn được xuất bản công khai. Các báo có lập trường quốc gia đều rút vào (kể cả các tờ báo do Việt Minh chủ trương) hậu phương và Việt Minh đã kiểm soát chặc chẻ báo chí mà họ cho là phản động, và chỉ có những tờ báo nào ủng hộ nhà cầm quyền Việt Minh mới được tiếp tục xuất bản. Khi Việt Minh rút vào bong kháng chiến, Pháp trở lại Hà Nội , báo chí Việt Nam có thêm hai tờ báo : Trật Tự và Ngày Mới do Cao Uûy Phủ Pháp và Hội Đồng An Dân  chủ trương.
D. BÁO DƯỚI THỜI ĐỆ NHẤT CỘNG HÒA
Sau cuộc di tản  vĩ đại của đồng bào miền Bắc vào Nam tránh nạn Cộng sản, một số nhà báo cũng vào được miền Nam và tiếp đuổi nghề làm báo cùng với một số ký giả trong Nam. Tưởng cũng nên nhắc lại, báo chí nước ta trong thời Pháp cai trị có những luật lệ quá khắc khe và cấm đoán trên một số lãnh vực, vì Pháp dùng chính sách “ ngu dân “ để cai trị, nên họ đã đưa ra nhiều luật lệ nhầm giới hạn quyền về báo chí. Đạo luật báo chí căn bản ngày 29 tháng 7 năm 1881 do nhà cầm quyền Pháp ban hành tại Nam Kỳ và bổ túc sắc lệnh ngày 4 tháng 10 năm 1927 áp dụng trên toàn lãnh thổ Việt Nam  cho thấy những nghĩa vụ báo chí và xuất bản phẩm định kỳ. Theo luật này, báo chí và xuất bản định kỳ phải ghi tên và địa chỉ nhà in . Nếu ghi sai lầm hay giả mạo , hoặc quên không ghi, đều coi là một tội phạm sẽ bị phạt  từ 100 quan  đến 1.000 quan. Và nếu trong vòng 12 tháng tái phạm  sẽ bị phạt nặng hơn. Ngoài ra còn phải khai trình, tên và loại báo chí hay xuất bản phẩm định kỳ, tên họ, địa chỉ người quản nhiệm, tên và địa chỉ nhà in , in báo chí hay xuất  bản phẩm. Nạp bổn: khi phát hành  một số báo chí hay xuất bản phẩm định kỳ người quản nhiệm phải đệ nạp tại toà án hai số có chữ ký  của người quản nhiệm, việc nạp bổ này, mục đích để chính quyền theo dõi  dư luận nên luật cũng đòi hỏi thêm nạp bản thêm tại Nha Thông tin thuộc Bộ Thông Tin. Bên cạnh việc khai trình, nạp bổn, tờ báo hay xuất bản định kỳ cũng phải có tên người quản nhiệm ở phía dưới tờ báo, nếu không sẽ bị phạt về hành chánh 

Sau khi truất phế  vua Bảo Đại bằng cuộc trưng cầu dân ý.Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã bình định quốc gia bằng nhiều mặt, ưu tiên là chính trị và quân sự, nhưng lãnh vực báo chí Tổng Thống cũng đã có kế hoạch phát triển .Tuy nhiên song hành  với sự tự do phát triển báo chí Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng đã ấn định nhiều hình phạt về các luật lệ hiện hành báo chí và tất cả các phương tiện xuất bản phổ biến. Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa  Dụ số 13  qui định về hình phạt vi phạm của báo chí  trong đó chính quyền nêu rõ các mức hình phạt bằng tiền hoặc tù cho những cơ quan báo chí vi phạm. Bị phạt từ 25.000 đến 1.000.000 đồng và từ 6 tháng đến 5 năm tù, khi cơ quan báo chí vi phạm sự truyền tin, xuất bản, phổ biến , nhắc lại bất cứ bằng cách nào , những tin tức hoặc bình luận  xuyên tạc lợi cho những hành động cộng sản, hay phản quốc gia, dầu những hành động ấy  có tính cách đoàn thể hay cá nhân. Từ 10.000 đến 5000.000 đồng và từ 1 đến 2 năm tù, cùng với sự tịch biên những tài liệu và vật liệu, phạm pháp, mọi sự xúc phạm đến thuần phong mỹ tục, sự đem bán, phân phát, trưng bày những hoạ phẩm, ấn khắc phẩm, biểu hiện, tranh vẽ, ảnh chụp, hoặc ấn loát phẩm có tính cách dâm ô. Từ 5.000 đến 250.000đồng và từ 15 ngày đến 1 nămtù, sự phỉ báng hay lăng mạ tư nhân. Ngoài việc  bị phạt tiền hay tù thì các cơ sở báo chí vi phạm , khi có lệnh tuyên phạt của toà án , tất cả các phương tiện sẽ bị tịch thu, và thu hồi toàn bộ giấy phép tạm thời hay vĩnh viễn tuỳ theo mức độ vi phạm. Ngoài những phương tiện cơ sở bị đóng cửa hay tịch thu, các đối nhân như : chủ nhiệm, chủ bút và tác giả, người quản lý ( nếu không có những viên chức kể trên) , chủ xuất bản, người niêm yết nếu không có quản lý  cũng bị truy cứu trách nhiệm có thể bị truy tố, tuỳ theo tình tiết. 
Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa người dân có quyền tự do kinh doanh truyền thông qua hình thức báo chí. Có khoảng hàng chục tờ báo phát hành dưới thời Đệ Nhất Cộng Hoà với nhiều hình thức : nhật báo, Tuần Báo Nguyệt San , Đặc San …trong số các loại trên có những tờ báo do chính quyền và quân đội quản lý, như tờ Tiền  Tuyến, tờ Quật Cường,.., riêng tờ Đời Mới không hẳn là của chính quyền nhưng do cụ Trần Văn Ân sáng lập lúc cụ đang làm Tổng Trưởng Thông Tin. Cũng có nhiều tờ chuyên viết dành cho phụ nữ như tờ Phụ Nữ Mới, …. 
(Sẽ Viết Tiếp)
SỨC MẠNH CỦA Ý CHÍ
            (Strength Of Will)

              HÀ ĐÌNH HUY

“Thiên tài chẳng qua là sự cố gắng làm việc lâu dài”
                                           
                 (Ngạn ngữ Tây phương)

I.ĐƯỜNG DẪN ĐẾN TÀI NĂNG

1.Tài năng tạo bởi chính bản thân mình.
Trong lịch sử nhân lọai, đã và đang xuất hiện những tài năng mà ánh sáng trí tuệ của họ còn soi rọi mãi về sau. Có những con người tài năng nẩy nở sớm. Ở họ lòng khát khao làm việc vô bờ đã hòa nhịp với những rung động sáng tạo tự nhiên làm cở sở cho toàn bộ thế giới tinh thần. Họ sáng tạo say sưa quên mình, không chút gì miễn cưỡng. Đọc các tác phẩm của Nguyễn Du, Victor Hugo, Puskin……hoặc nghe những bản nhạc của Moza, Bethtoven …, hay ngắm những bức họa của Rafaen, Rambrang, Leonardo De Vinci chúng ta không thể không rung động sâu sắc và bẩm phục tài năng của các nghệ sĩ vĩ đại ấy.
Cuộc đời của họ ít gặp những nỗi gian lao hoặc những trở ngại gớm ghê đòi hỏi phải có những nỗ lực  ý chí phi thường , một lòng kiên gan sắt đá . Họ sáng tạo nhẹ nhàng tự nhiên như hoa nở ban mai , như chim hót lúc bình minh.
Thế nhưng bên cạnh những con người như thế lại có những con người có một cuộc đời khác hẵn . Cảnh ngộ của họ nhiều khi thật éo le. Họ phải kiên gan đấu tranh với số phận khắc nghiệt và phải nhẫn nhục khắc phục ngay chính cả bản thân mình. Người ta gọi họ là những tài năng “ do chính bản thân mình”. Đó là Demonstein nói ngọng và hay xấu hổ , đã hằng ngày ngậm sỏi , gào thi với sóng biển , cuối cùng trở thành nhà hùng biện vĩ đại thời cổ . Đó là người khổng lồ M. Lomonnosop phải khắc phục với nỗi tủi cực “lớn xác rồi mà vẫn chưa biết đọc” và như chúng ta đều biết – nhà bác học Nga vĩ đại của những thế kỷ qua. Đó là Vanshope người Hòa Lan mắc bệnh tâm thần , nhờ kiên trì tranh đấu với bệnh tật , cuối cùng trở thành nhà bác học lừng danh , có công ty xây dựng lý thuyết hóa học  không gian và được giải thưởng Nobel đầu tiên về hóa học . Đó là Pontriaghin bị mù hai mắt từ còn học bậc tiểu học , nhưng vẫn kiên trì khắc phục , khó khăn và tiếp tục học , cuối cùng trở thành nhà tóan học xuất sắc và trở thành viện sĩ chính thức của Viện Hàn Lâm Khoa Học  Nga.Đó là Erche Namu người thiếu nữ sắc dân thiểu số của Tây Tạng đã vượt bao nhiêu qui định của tập tục làng xã, không tự do rước trai vào phòng ngủ của mình khi 13 tuổi, sau khi buổi lễ mặc váy của tục làng. Dĩ nhiên Erche Namu bị sự hành hạ và ruồng bỏ của dân làng, nhưng với ý chí sắt đá và muốn mình phải trở thành một biểu tượng văn minh cho thôn xóm. Erche đã ly khai với tục lệ và đã trốn thóat môi trường lạc hậu để trở thành cô ca sĩ Erche Namu nổi tiếng của đất Phật…..
Nhiều tài năng trong số này, ngay từ bé thậm chí khi đã lớn rồi , vẫn bị rầy la là kém cỏi hoặc “ bất tài”. James Watt được coi là “học trò kémcủa lớp”, còn John Newton thì không được thầy cho học giáo trình vật lý và tóan học trung học . Linner bị coi là một thằng đần.  Vantor  Scott đã có lần bị một giáo sư  gọi là “ một thằng thộn vàø mãi mãi vẫn là thằng thộn” . Charles Darwin bị đuổi khỏi trường đại học Edynbur vì không có khả năng học tập và Abert Einstein bị trượt khi thi vào trường đại học Duyrich .
Thế nhưng những con người “bất tài” đó cuối cùng đã có những cống hiến lớn lao và đã trở thành những thiên tài để lại dấu tích bất hủ trong nền văn hóa loài người.
Vậy bí quyết thành công của họ là ở chổ nào? Sức mạnh nào thôi thúc họ vượt khó để đến thành công ? Rõ ràng đó là nhờ ở ý chí.
Thật vậy, phần lớn các bậc tài năng “ do chính bản thân mình” đều có một ý chí kiên cường, một khát vọng mãnh liệt tự khẳng định mình. Họ là những con người ngoan cường chiến đấu với bệnh tật, với những khiếm khuyết về tinh thần và thể lực để rồi tự sáng tạo ra mình. Và trong các công trình của họ chúng  thấy nổi bật dấu ấn của những cố gắng phi thường . Chính sức mạnh nội tâm và lòng nghiêm khắc đòi hỏi mình, khát khao rèn luyện  đã đưa họ đến thành công  và cho phép chúng ta xếp họ vào hàng những bậc thiên tài.. Chính họ, thiên tài theo kiểu Abert Einstein, một con người được xem là “ngọn tháp của vật lý học hiện đại”, vậy mà có lần đã từng nói: 
“ Tôi chẳng có tài cán gì cả, ngòai tính bền bỉ của con trâu và lòng ham hiều biết vô bờ”  
2. Cái chết bị chặn lùi
    Ý chí được khơi nguồn và tiếp sức bởi những động cơ xã hội vĩ đại, nhiều khi đưa đến những sức mạnh bí hiểm, diệu kỳ.
Trong sách sử  nước Ý cũng có ghi, trong lúc mưu sát Poocxena quốc vương Ehtrut , kẻ bao vây thành La Mã vào năm 508 trước công nguyên , một thanh niên  La Mã tên là Muxiut đã bị bắt. Tên vua này nổ trận lôi đình đã ra lệnh đốt lửa tra khảo chành thanh niên dũng cảm ấy và xem coi kẻ đồng mưu là ai. Muxiut ngang nhiên đi đến bên đống lửa và thản nhiên đưa tay vào trong ngọn lửa. Và Muxiut cứ thế đối đáp với tên bạo chúa cho tới lúc cánh tay cháy thành than. Kinh hãi trước hành vi của chàng thanh niên La Mã tỏ rõ sức mạnh ý chí của dân tộc mình, quốc vương Poocxena ra lệnh tha chàng thanh niên và lui binh. Hình tượng MuXiut, được gọi theo biệt danh Secvolus ( người thuận tay trái) đã đi vào sử sách của nhân lọai như là một tấm gương ý chí đã chiến thắng hết thảy.
Chúng ta không biết Muxiut đã vượt qua đau đớn hay không cảm thấy đau, nhưng xét về phương diện sinh lý học trường hợp anh không cảm thấy đau, không phải là khôtng thể xảy ra . Bởi vì lúc ấy, vùng hệ thống tín hiệu thứ hai, có liên quan ý nghĩ về tổ quốc vĩ đại được cao thành tiếng, mạnh đến mức độ theo qui luật cảm ứng âm, đã át hẳn ức chế vùng gây ra đau đớn.
Chẳng ai mà không biết Vantor Scott đã đọc cho viết các tác phẩm của mình trong lúc nhà văn đang bị bệnh tật hành hạ vô cùng đau đớn . Ông đã dùng sự nổ lực ý chí buộc mình làm việc . Say sưa với những đoạn đối thoai sinh động , ông đã vùng ra khỏi giường và chạy quanh phòng, hòan toàn nhập vào vai các nhân vật của mình, quên hết đau đớn. Hầu như qúa nửa tác phẩm “ Vị hôn thê ở Lamecmour ”  tòan bộ tác phẩm “Truyện cổ tích miền Montrozier” và gần như toàn bộ tác phẩm “ Aivanho” nổi tiếng đã viết trong tình trạng như thế.
Về nội dung tình cảm tuy có khác, song về cơ chế  động lực thần kinh thì trường hợp nầy hoàn toan giống trường hợp trên : vùng hưng phấn mạnh trong vỏ não chẳng những giúp ta vượt qua được đau đớn , mà còn làm cho ta không cảm thấy đau đớn nữa.
Đã có trường hợp một máy bay hạ cánh không bình thường : sau khi đụng vào mặt đất, chiếc máy bay đó lao chồm lên , cắm phập một cánh xuống đất , đứng dừng lại và tắt máy. 
Mọi người lao đến sững sờ : anh phi công máu me đầm đìa vẫn còn nắm chặt tay lái. Chân anh đạp cứng trên phanh hãm. Trên nét mặt anh còn lộ rõ sự căng thẳng tột độ, sự chú ý và sự nỗ lực phi thường. Hai mươi phút sau, lúc đưa vào phòng cấp cứu, anh phi công tỉnh lại. Sắc mặt không hề thay đổi, anh nói qua hai hàm răng cắn chặt:
- Nhiệm vụ đã hoàn thành….Đồng đội thế nào ? Máy bay có sao không? Và anh lại bất tỉnh.
- Khỏang nửa giờ nữa trôi qua , anh lại tỉnh lại và lại hỏi y heat như lần trước : 
- Khi biết máy bay an toàn và đồng đội không sao cả, anh hài lòng nói: 
- Thế là mừng! Anh bắt đầu cảm thấy đau nhói kêu rên và giãy giụa.
Bị thương nặng anh cố lái máy bay về sân bay, nỗi lo về đồng đội và máy bay mạnh đến mức độ trung tâm hưng phấn gắn liền với nỗi lo lắng đó trong vỏ não đã ức chế sự đau đớn, không để anh ngất lịm đi trong không trung . Trung tâm hưng phấn đó mạnh đến nỗi lúc đã đưa đến phòng cấp cứu, sau hai lần ngất đi, nó vẫn không bị dập tắt . Chỉ những lời nói làm anh an tâm mới có thể dập tắt được trung tâm đó. Thành thử, sau đấy trung tâm này khử ức chế chỗ những vùng trước kia đã bị ức chế và anh phi công cảm thấy đau nhức và giãy giụa vì vết thương quá nặng.
Dây không phải trường hợp duy nhất chứng tỏ sức mạnh ý chí đã giúp cho con người chống đỡ không bị ngất và chặn lùi được cái chết. Đã có trường hợp một phi công 
“ hãm” được cái chết, kịp cho máy bay hạ cánh an toàn. Và khi phi cơ vừa hạ cánh thì phi công cũng chết ngay tức khắc .
Vào năm 490 trước công nguyên một chiến sĩ Hy Lạp sau khi chạy một mạch 42 km từ làng Marathon đến thủ đô Athènes để báo tin đại thắng của quân Hy Lạp đánh tan 10 vạn quân của Ba Tư , đã gục xuống chết ngay. Để ghi nhớ chiến công xúc động đó , đại hội thế vận lần thứ nhất tại Athènes đã tổ chức cuộc thi chạy đường trường lấy tên Marathon . Chặng đường chạy dài 42,195 km xuất phát từ làng Marathon  và về tới đích ở thành Athènes .
Trong một trận thắng, một liên lạc viên ngắc ngoải  trên lưng ngựa đến trao cho Napoleon  một bức thư : 
- Người bị thương? – Napoleon hỏi.
- Không tôi đã bị giết! – Trả lời xong anh rơi xuống ngựa chết nay.

II. Ý CHÍ LÀ GÌ?

“Đường đi không khó gì ngăn sông cách núi,
  Mà  khó vì lòng người ngại núi e sông”
                             (Nguyễn Bá Học)
“Người không chí như thuyền không lái, 
như ngựa không cương trôi dạt lông bông không ra thế nào cả.”
                               ( Vương Dương Minh)

Theo một số tự điển thông dụng Việt- Anh, từ ngữ “ Will” chỉ về ý chí của con người có thể tương đối chính xác nhất. Vì bên cạnh từ “ will” cũng có những từ khác nữa như “ Volition” và “ Intention”, như với cả hai từ này, theo như một số nhà làm tự điển thì chỉ nói lên được một phần nào ý chí của con người về khía cạnh “ action”  chứ chưa lột trần hết ý nghĩa như chữ “ will”. Bởi lẽ chữ “ will” diễn tả đến một cách rốt ráo về giá trị của một con người trên khía cạnh hành vi. 
Như vậy nói đến ý chí là nói đến năng lực điều khiển, hành vi  của mình, năng lực khắc phục những khó khăn , trên đường đi tới mục đích . Trong điều khiển học, ý chí định nghĩa như  một khái niệm trò chơi . Nó phản ảnh tình huống của cuộc đấu tranh  sống còn . Không có đấu tranh, không có sự chống trả trong bản thân mỗi con người thì cũng không cần thiết tới sự nỗ lực và ý chí.
Phi công Nguyễn Quý An, với ý chí sắt đá ( Will of Iron) đã không sợ gian nguy, quyết cứu sống những người bạn đồng minh lâm nạn, mặc dù mình đã bị thương.
Thương phế Binh TQL, lính nhãy dù của Quân Lực Cộng Hòa, trong trận đánh với địch quân  ở Tân Cảnh đã bị thương gãy cột sống, chùm dây thần kinh nối liền với bộ óc , bị đứt hai chân liệt không còn đi lại được. Nhưng với tâm niệm” còn sống là còn làm việc”, anh đã tự học Anh Văn với một nghị lực phi thường. Biết bao khó khăn chồng chất, nhưng anh không nãn : nhờ làm một cái giá để sách và giấy , nằm ngữa trên giường mà viết từng chữ , vừa dịch vừa học . Cuối cùng, chỉ trong 3 năm trời, TQL đã dịch và được in trên hai ngàn trang sách. Anh thường bảo: “ Mỗi người không có quyền lùi bước, bỏ dỡ việc thực hiện mục đích của mình…”
Ý chí bao giờ cũng là ý chí chí của con người cụ thể và luôn biểu hiện qua hành động. Khi nói đến ý chí, tất yếu là phải nói đến hành động. Hành động này, gọi là hành động ý chí.
Một hành động ý chí, cho dù có muôin hình đến đâu chăng nữa, bao giờ cũng phải có xác định mục đích, đấu tranh, động cơ quyết định, lựa chọn phương thức hành động và thực hiện quyết định.
Trước khi làm việc gì con người thường tự hỏi: “ Làm việc này để làm gì?”, tức là người đó đã xác định mục đích hành động . Nhưng mục đích cần có sự thiết thực . Bởi chúng ta không phải là những kẻ cuồng tín , tự hủy tâm hồn và cơ thể mình vì những mục đích viễn vông rỗng tuếch. Trong khoa học và trong đời sống xã hội, chính những mục đích cao đẹp , đầy nhân ái đã thúc đẩy con người khắc phục những trở ngại trên đường thực hiện mục đích và kiên trì đấu tranh cho mục đích ấy.
Song trong cùng một lúc, con người thường có nhiều mục đích khác nhau , thậm chí trái ngược. Vậy phải chọn lựa, khi chọn lựa cần phải tranh đấu với bản thân. Giai đọan này, gọi là hành động “ đấu tranh động cơ” vàø thời kỳ này được xem là quan trọng nhất trong phương hướng tâm lý. 
Câu nói độc bạch của Hamlet sau này đã trở thành châm ngôn của tranh đấu bản thân giữa hai thái cực khác nhau.
“ Sống hay chết- vấn đề là ở đấy,
Cứ sống sau chịu tủi nhục phận hèn,
Hay cần phải xông lên phản kháng,
Khởi nghĩa, vũ trang, chiến thắng.
Hoặc tiêu vong?”   
Mục đích có giá trị tương đương bao nhiêu, thì càng khó chọn bấy nhiêu. Chẳng hạn, khi giải quyết vấn đề chọn nghề: thế giới nghề nghiệp “ bao la” mà nghề nào cũng có cái hay cái đẹp, nhưng ta chỉ được quyền chọn một. Nên trong trường hợp này, mục đích nào phù họp với bản thân thì nên giữ lại, tức là ta đã quyết định . Một Học giả Tiệp nói: “ Anh hùng là người trong giây phút, quyết định đã làm những điều cần làm vì lợi ích của xã hội loài người”.
Khi đã có quyết định đúng đắn, chúng ta nghĩ ngay đến phương thức hành động. Có những hành động đơn giản chúng ta không cần phải suy nghĩ, ngược lại có những hành động phức tạp, buộc chúng ta phải có phương thức hành động.
Lúc 14 tuổi Viện sĩ  Smith Author đã vạch cho mình một kế họch chi tiết. Trong kế họach đó, ông ghi rõ cần đọc những cuốn sách gì, cần nắm những bộ môn khoa học nào, giải quyết những vấn đề gì, và phát triển thể lực ra sao. Nhưng khi tính lại, ông phát hiện ra cần 900 năm mới thực hiện nổi. Smith “ gò” chương trình một cách khó nhọc còn lại 500 năm, “ gò” lần nữa còn 150 năm. Và ông dừng lại ở đó. Suốt cả cuộc đời 64 tuổi hiến mình cho khoa học, nhà bác học đã thực hiện được hầu như xong cả chương trình 150 năm. “ vượt kế họach “ gần như gấp 3 lần.
Kế họach đã đưa ra, thì chúng ta cần nên thực hiện quyết định. Thực hiện quyết định là phải do hành động . Và kết thúc quá trình hành động con người biến nguyện vọng thành hiện thực.
Có điều trong quá trình hành động, ít nhiều con người đều gặp khó khăn . Thái độ của con người trước khó khăn biểu hiện mức độ nỗ lực ý chí của người ấy. Khó khăn càng nhiều, càng khắc phục được , thì nỗ lực ý chí càng cao. Sự vĩ đại và uy lực con người chính là ở chỗ biết huy động toàn bộ sức mạnh, thể chất, tinh thần và xúc cảm vượt hết trở ngại này đến trở ngại khác một cách liên tục và có mục đích. Vào những giây phút động viên sức lực tối đa ấy, con người thường đạt những đỉnh cao của khả năng sáng tạo: nguồn gốc của mọi hạnh phúc và niềm vui. Không phải lịch sử nói với chúng ta rằng cuộc đời tuyệt đại đa số các vĩ nhân thường phải tiến hành đấu tranh đến cao độ, phải khắc phục vô vàn những trở ngại trên đường bằng cách huy động toàn bộ sức mạnh của mình!
III.RÈN LUYỆN Ý CHÍ NHƯ THẾ NÀO?
Ý chí không phải là một cái gì do trời phú, mà nó được hình thành trong cuộc sống, ngay từ nhỏ, trong quá trình học tập, giáo dục và họat động. Thật là sai lầm nếu nghĩ rằng: “ Ừ ý chí quan trọng thật, vậy hãy để rèn luyện ý chí xong xuôi đã rồi mới bắt tay vào hành động”. Nên nhớ kỹ một điều then chốt: ý chí hình thành phát triển chính trong họat động. Chỉ thông qua những việc hằng ngày, khắc phục những khó khăn, con người mới có cơ rèn luyện và thử thách thiết thực ý chí của mình.
Chúng ta cần phải trở thành đạo diễn cuộc đời mình. Chúng ta cần phải can đảm, và chỉ có can đảm mới làm nổi việc này. Thalet đã dạy: “ Điều khó nhất là hiểu chính bản thân mình”. Chúng ta nhất thiết phải nghiên cứu tỉ mỉ, phải thấy được mặt mạnh, mặt yếu của mình để sữa chữa và hoàn thiện “ cái tôi” của mình cho có hiệu quả tối đa.  Một triết giaTây phương viết: “ Mỗi con người là cả một thế giới”. Ở đây chúng ta không được phép chơi ú tim với bản thân mình, mà phải sớm đi tìm một chí hướng và mục đích cuộc đời. Muốn cho mục đích hợp với ý nghĩa rthực tiễn, mục đích cần phải hợp với sức, hợp với khả năng của mình và có thể thực hiện được . Những mục đích quá cao siêu, quá hay, không thực hiện được sẽ làm nhục chí con người. Cho nên niềm tin cũng là một yếu tố quan trọng, hiểu được nguyên lý đúng đắn của mục đích, và kiên quyết khép mình vào kỷ luật, buộc mìnhn tiếp tục công việc đến nơi đến chốn. Ngược lại không có niềm tin, con người dễ sinh ra dao động, hòai nghi và lùi bước trước những khó khăn.. Nhà trí giả Nga viết: “ Trong con người những phản xạ cấp thấp, chẳng hạn như phản xạ ăn, còn có phản xạ cấp cao- khát vọng khắc phục khó khăn. Cần phải phát triển có ý thức, có hệ thống loại phản xạ đó trong bản thân mình”. Thí dụ: Đặt ra kế họach tập thể dục mỗi buổi sáng từ A giờ đến B giờ, chúng ta cần phải tìm mọi cách phấn đấu để thực hiện được. Làm được như vậy, điều đó chứng tỏ cho ta lòng tin vào khả năng khắc phục bản thân.
Để hành động có hiệu quả, ngòai việc ý thức được mục đích hành động, còn phải có lòng mong muốn đạt đến mục đích. Mục đích càng lớn, càng có nhiều khó khăn trở ngại, thì lòng mong muốn đó càng cần phải bền vững. Trong sinh họat thường ngày, trong vô số những điều vụn vặt  của hành vi, chúng ta thường ít nghĩ đến cái “muốn” đó. Chúng ta thường không nhớ muốn cũng có nghĩ là có thể. Không phải ngẫu nhiên mà người ta bảo: muốn làm được nhiều hơn người có thể làm được. Muốn và Làm phải hòa quyện thành một. Có điều ở một số người, cái “ muốn” này nhiều khi không đủ mạnh, ở họ thiếu hẳn một động cơ mãnh liệt đủ để “ bật” bộ máy ý chí của mình. Gặp những trường hợp như thế, tốt nhất nên mở rộng phạm vi hứng thú. Hứng thú sẽ nảy sinh mục đích và khát vọng mục đích. Khát vọng này, đến lượt mình, tự nó cầu viện đến ý chí và buộc ý chí phải làm việc. 
Lời nói cũng hỗ trợ nhiều cho nỗ lực ý chí. Sự cổ vũ chân tình của bè bạn, lời khích lệ nhiệt thành của cha mẹ và thầy giáo, những câu châm ngôn nổi tiếng của các vĩ nhân, những lời hay ý đẹp trong sách báo, là nguồn kích thích mạnh mẽ đối với hành động ý chí. Thậm chí, nhiều khi những lời thầm hứa của chính bản thân cũng giúp ta thêm sức mạnh. Chúng ta phải học cách tự mình ra lệnh cho mình, tự buộc mình phải tập trung tư tưởngvà sức lực , kiên trì theo đuổi mục đích của mình. Có như vậy mới có thể nói được tacó khả năng điều khiển cái “muốn” của mình.
Tóm lại muốn làm chủ bản thân, cần phải biết tự xem xét bản thân , biết điều chỉnh hành động cho phù họp với kế họach đã định và điều chủ yếu là vượt khó khăn trở ngại bên trong và bên ngoài đường đi tới mục đích.
Khoa học hiện đại đã dành cho con người cái quyền vận dụng cả một kho phương tiện và phương pháp để tự phân tích mình. Nhưng muốn sử dụng cái kho ấyphải do chính bản thân con người, vì lẽ không ai dù là bác sĩ , nhà tâm lý , hay bất cứ kỹ sư  tâm hồn nào , có thể thâm nhập vào những  ngõ ngách sâu kín của cái “tôi” trong nhiều năm liên tục , để quan sát và nghiên cứu cái “tôi” thần bí đó. Bởi chưng không ai hiểu mình bằng chính bản thân mình.

HÀ ĐÌNH HUY

Sách tham khảo:
*Cổ Học Tinh Hoa (Quyển II) 
Nguyễn Văn Ngọc & Trần Lê Nhàn
*Science Of The World & Technical)
Vietnamese -English & English Vietnamese Dictionary
Nguyễn Văn Khôn ( nhà xuất bản Khai Trí)
*Danh Nhân Thế Giới ( Thư  Quán Việt Nam)

TIẾNG VIỆT HAY QUÁ


HÀ ĐÌNH HUY

Hội Trường Văn Hóa Trung Tâm VIVO, số 2260 Quimby Road, không còn một ghế trống nào để cho quan khách ngồi tham dự buổi ra mắt tập sách “ Tiếng Việt Hay Quá! “ của nhà văn Nguyễn Hữu Nhật đến từ Na Uy. Đó là lời nhận xét của chị Loan Quỳnh một tham dự viên . Và cũng theo lời của Giáo Sư Ngô Đức Diễm thì số người đã đong đầy hơn số ghế  có trong hội trường. Một người khác cho rằng : “ Buổi ra mắt tập sách Tiếng Việt Hay Quá! Của nhà văn Nguyễn Hữu Nhật đã thành công mỹ mãn.
Vào khoảng 2 giờ 30, sau khi MC Hoàng Ngọc Văn đã thông qua các thủ tục nghị lễ và giới thiệu các quan khách cũng như các cơ quan truyền thông trong vùng, MC Thủy Tiên đã trình diện nhà văn Nguyễn Hữu Nhật với các tham dự viên, ông chào mừng và cám ơn đồng bào tới tham dự. Trong phần cám ơn đặc biệt ông đã đề cập đến các mạnh thường quân: Hoa Hậu Bích Liên, ông Nguyễn Hùng Tâm Chủ nhiệm Tuần Báo Đời Mới , nhà thơ Song Linh các cơ quan truyền thông đã yểm trợ vật chất, đăng tải hoặc phỏng vấn, phát thanh tin tức nội dung buổi ra mắt. 
Nhà thơ Ngô Đức Diễm đảm trách phần giới thiệu tác giả. Theo nhà thơ Ngô Đức Diễm là ông chỉ hân hạnh gặp được nhà văn Nguyễn Hữu Nhật trong Hội Tết Fairgrounds Aát Dậu, nhưng lần gặp này ông như đã thấy thân quen từ lâu vì tên tuổi tác giả được nhiều người biết đến từ lâu trong giới văn học nghệ thuật. 
Tác giả Nguyễn Hữu Nhật sinh năm 1942, và là bố vợ của Dương Kiền , một trong những nhà thơ có tiếng ở Việt nam cùng với Võ Hồng và Quách Tấn.
û  Ôâng là một nhà văn nổi tiếng,đã có 22 tác phẩm xuất bản, gồm truyện ngắn, truyện dài , tùy bút và thơ. Năm 2005 cho xuất bản cuốn tiểu thuyết dày 2000 ngàn trang với tên Thời Của Qủy. Oâng còn là một họa sĩ nổi danh, đã đem ngôn ngữ sắc màu vào 11 cuộc triễn lãm tranh sơn mài và tranh dầu tại Aâu Châu. Oâng còn là một nhà báo. Trước kia là Trưởng phòng báo chí Tiểu Khu Gia Định. Nay là chủ biên Tạp Chí Hương Xa tại Oslo Na Uy. Oâng cũng kiêm luôn cả nghề xuất bản từ năm 1970 tại Sàigòn và từ năm 1990 tại hải ngọai. Điểm đáng nói là tác giả Nguyễn Hữu Nhật là một chiến sĩ văn hóa, đã bị CSVN bắt bỏ tù trong Vụ Aùn Văn Học cùng với Dõan Quốc Sĩ , Hiếu Chân, Khuất Duy Trác và Dương Hùng Cường.
Cũng theo nhà thơ Ngô Đức Diễm, thì ông rất cảm phục tác giả vì ông cho rằng tác giả là người biết thưởng thức hương vị cõi đời như một con người biết làm người và làm người Việt Nambởi tác giả đã chia sẻ được 4 nghệ thuật làm đẹp cuộc sống . Đó là biết cách ăn cho thật ngon, nói cho thật hay,cuời cho thật vui, và chơi cho thật đã và hơn nữa là biết làm người Việt Nam, yêu quê hương, yêuvăn hóa và nhất là yêu tiếng Việt.
Giáo Sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh bàn về tác phẩm . Theo Giáo Sư Vinh : Đây là một công trình nghiên cứu văn học có chất lượng mà nhà văn Nguyễn Hữu Nhật bỏ ra nhiều thời giờ để hòan thành . Sách có 214 trang chưa kể những trang phụ lục, được chia ra làm nhiều phần. Mỗi phần tác giả nói lên tính đặc biệt của tiếng Việt. Đặc biệt trang đầu “Nghe và Nói” nhà văn Nguyễn Thị Vinh như đã viết thay lời tựa cho tác giả đề cập đến tính ưu việt của chất tiếng Việt và mở đầu giới thiệu tùy bút “ Tiếng Việt Hay Quá!” một cách tài tình. Những chương khác tác giả đều bàn đến những khía cạnh thuần đặc điểm thế nào là sự hay quá của tiếng Việt, đồng thời tác giả cũng dẫn chứng ra  những tác phẩm lớn, những đỏan văn hay có ý nghĩa và cú pháp cao để biện minh đặc điểm độc nhất  chỉ có tiếng Việt mới thật sự là hay quá! Những mẹo vặt trong ngôn ngữ tiếng Việt cũng đã được tác giả chú trong đến. Cuối cùng trang phụ lục “ Ca Dao Nguyễn Hữu Nhật “ nhẹ nhàng đi sâu vào vào tâm hồn người Việt với những từ ngữ giản dị , biểu hiện lên một điểm nhằm giải thích thế nào là Tiếng Việt Hay Quá! Của tác giả Nguyễn Hữu Nhật
Chương trình văn nghệ phụ diễn, tặng hoa cho các mạnh thường quân, những khách ở xa và nghệ sĩ cũng được nhóm tổ chức thực hiện thật tế nhị và tốt đẹp. Các ca sĩ Đan Hùng , Thiên An  Nguyên Nhu và Triệu Minh lần lượt trình diễn những tiết mục : Ngâm Thơ và hát những những bản nhạc tình cảm quê hương của các tác giả : Hà Đình Huy, Sương Mai, Phạm Duy ….Nhà thơ Song Linh đại diện cho các nhà mạnh thường quân nhận hoa từ thi sĩ Ngọc Bích trao tặng. Các giáo sư Tòan Phong Nguyễn Xuân Vinh, Ngô Đức Diễm, Thiên An, Triệu Minh và tác giả Nguyễn Hữu Nhật nhận hoa từ Hoa Hậu Bích Liên, bà Hòang Ngọc Văn ,Ngọc Thủy, Trường Giang và Duy Văn.
Buổi ra mắt tập Tùy Bút “ Tiếng Việt Hay Quá!” chấm dứt vào lúc 4 giờ, sau lời nhiệt thành cảm tạ của tác giả đến với nhóm thân hữu tổ chức , các quí mạnh thường quân, các nhạc sĩ Luynh Phương, Vân Trang và đồng bào đến tham dự.
                                                                                           HÀ ĐÌNH HUY

PHÁO BINH BẮC CALI HỌP MẶT TÂN NIÊN

11 giờ 30phút sáng chủ nhật  ngày 6-3-2005,tại nhà hàng Phú Lâm thuộc thành phố San Jose, hàng trăm chiến hữu ngành Pháo Binh VNCH và thân hữu đã họp mặt đầu năm. Theo Pháo thủ Nguyễn Hữu Nhân và Mạc Văn Thuận thì cuộc họp mặt là nhằm mục đích để các chiến hữu trong ngành Pháo Binh có dịp hàn uyên tâm sự , chia sẻ với nhau những niềm vui buồn trong cuộc đời xa xứ và kiểm điểm lại sự thông tin mất còn về nhân sự trong các chiến hữu ngành Pháo Binh ngụ trong vùng Bắc Cali. Bên cạnh đó cũng để bầu lại ban chấp hành của Hội Aùi Hữu Pháo Binh Bắc Cali.
Được biết trong những năm qua, ban chấp hành cũ gồm có những chiến hữu: Nguyễn Hữu Nhân, Trần Trung Sơn, Mạc Văn Thuận, Uông Văn Lễ……đã hết nhiệm kỳ. Và nay theo nhu cầu mới để có một ban chấp hành mới để điều hành Hội trong thời gian tới đây. Cho nên họp mặt tân niên lần này cũng là dịp bầu lại một ban chấp hành gồm nhiều thành phần nhiệt tình và năng nổ, uy tín  để cùng sinh họat với các hội đòan bạn trên nhiều lãnh vực cần thiết giúp cho cộng đồng và đất nước.
Sau Phần phát biểu của Trung Tướng Lâm Quang Thi, thành phần ban chấp hành cũ đã trình diện trước các quan khách và tuyên bố hết nhiện kỳvà sau đó bầu lại ban chấp hành mới. Qua lời đề nghị và kêu gọi của ban tổ chức cũng là lời yêu cầu của hầu hết các pháo thủ có mặt . Ban chấp hành cũ được lưu dụng trở lại và tăng cường thêm một chức vụ chủ tịch hội. Trung Tá Kiên đã được đề cữ và đã đồng bý giữ chức vụ chủ tịch Hội. Theo một số chiến hữu Pháo Binh  thì Trung Tá Kiên như là một người rất có tài xuất thân từ khóa 10 trường Võ Bị Đà Lạt đã giữ nhiều chức vụ quan trọng trong ngành Pháo Binh và đã từng du học sang các nước Pháp, Hoa Kỳ …ông còn là một tronmg những thông dịch viên gỏi trong ngành Pháo Binh QLVNCH.
Buổi tiệc tân niên ngành Pháo Binh Bắc Cali cũng chấm dứt sau những chương trình văn nghệ karaoke với những bài họp ca hùng hồn của các chiến hữu Pháo Binh Bác Cali.

QUA ĐỒI TRINH NỮ 
Tập truyện dài “ Hoa Đồi Trinh Nữ” của tác giả Thảo Nguyên được ra mắt tại Khu Tù Nhân Chính Trị Bắc Cali được ủng hộ nồng nhiệt của các chiến hữu Biệt Động Quânvà các đồng hương cũng như giới truyền thông báo chí tại địa phương.
Tác giả đến từ tiểu bang Texas, theo ông Đặng Hiếu Sinh thì tác giả là cựu sinh viên Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt và trước đây phục vụ trong binh chủng Biệt Động Quân với chức vụ đại đội trưởng đại đội 4tiểu đòan 36 BĐQ. Sinh trưởng tại miền Bắc và di cư vào Nam học các trường trung học ở tỉnh Quảng Ngãi,là một cấp chỉ huy gan dạ bị thương nhiều lần trên chiến trường đặc biệt là bị thương nặng trên chiến trường đất đỏ Phước Tuy năm 1974. Tù cải tạo 6 năm. Vượt biên năm 1982 và hiện nay định cư tại Texas Hoa Kỳ.
Theo ông Trương Văn Vấn người Viết lời tựa cho tập truyện dài “ Qua Đồi Trinh Nữ” và cũng là người giới thiệu tác phẩm của ngày ra mắt thì: tác giả đã thay nghén tác phẩm này nhiều năm và mãi đến những năm gần đây mới sinh ra được. Chất liệu trong tác phẩm hầu hết là chuyện thật đôi khi pha lẫn một ít hư cấu cho tăng phần hoa văn và nhẹ nhàng trong những câu chuyện dễ chuyển mạch.Vì tác giảlà một quân nhân ngành chính tranh chính trị nên việc viết lách thật là nhại bén trong việc tranh đấu tư tưởng giữa những sự quyết định tâm lý dứt khóat trong câu chuyện và những nhân vật trong câu chuyện được dàn doing. Tuy nhiên như đã nói hphần lớn đều là chuyện thật nên sự việc trong những câu chuyện mà tác giả đã trải dài trên 14 chương kết thúc thật phủ phàng theo hòan cảnh thực tiễn của một vụ kết thúc. Theo Trương văn Vấn: bối cảnh cốt chuyện trong “ Qua Đồi Trinh Nữ” chỉ là một trại lính tiền đồn và những quan hệ của họ với thân nhân, những mối tình trai gái ,công khai hoặc vụn trộm trong thời chinh chiến. ….Đặc biệt là tình yêu của một vị sĩ quan trẻ chỉ huy một đơn vị tuyến đầu với một người con gái vừa Kinh vừa Thượng 
Còn nhà văn Diệu Tần và Diên Nghị thì nhận định “ Qua Đồi Trinh Nữ” theo một khía cạnh khác . Diệu Tần đã hết lòng ca ngợi tác phẩm “ Qua Đồi Trinh Nữ” như là sự xuất hiện một thiên phóng sự về những tình tiết của những chiến binh trong thời chiến, nó phản ảnh lên tính trung  thực của con người lính chiến đấu cho lý tưởng mình theo đuổi, những hiện tượng bắt gặp thường ngày trên hầu hết các chiến trường và ngay sau những phút giao tranh. Oâng cũng nhấn mạnh về bố cục của tập truyện và cho rằng đây là một tập truyện có bố cục tương đối mạch lạc và vững chải.
Còn Diên Nghị thì thật tình khen ngợi tập sách không có nhiều lỗi chính tả và đây là cuốn sách mà mỗi chiến hữu cần có để thao thức lại với những thời đã qua của mình hay nói cách khác là ôn lại những trong đời binh ngũ  cam go  gian khổ đấu tranh để bảo vệ lý tưởngquốc gia. Hình thức tập sách dễ nhìn không cầu kỳ với quá nhiều màu sắc tối tăm lượm thượm.
Chương trình văn nghệ phụ diễn xảy ra xen kẽ vào chương trình giới thiệu tác phẩm và tác giả thật nhịp nhàng. Sự nhịp nhàng và trôi chảy đó là do sự điều họp thật tế nhị của MC Đào Trung Chính. Đó là lời nhận xét của một thành viên tham dự. Buổi ra mắt kết thúc trong chiều sau nhiều tiết mục ca nhạc .

HÀ ĐÌNH HUY
                            


VĨNH BIỆT ÔNG KHAI TRÍ

DUY VĂN HÀ ĐÌNH HUY

 Sau bài viết của nhà văn Nguyễn Thụy Long “ Vĩnh Biệt Ông Khai Trí” . Nhiều văn nghệ sĩ  cũng như giới cầm bút trong và ngoài nước đã có những bài viết cảm nghĩ về cuộc đời của bác Khai Trí.Trong số người nói lên những cảm nghĩ đó, có người hiện đang là những viên chức thuộc ngành văn hóa của chế độ hiện tại.
Hầu hết họ đều có một nhận cảm chung : Bác Khai Trí là một người một đời chỉ có sách báo và cho sự mở mang kiến thức dân tộc. Thuở nhỏ bác là một học sinh ngoan hiền, đam mê sách báo và có cuộc sống giàu sang sung túc cũng từ sách báo. Bác là một con người làm sách, làm văn hóa qua sách báo, bác mong muốn trình độ kiến thức của dân tôc mỗi ngày một tăng thêm, để người dân Việt thấy được nền văn minh của nước ngoài và rồi theo đó học tập để đời sống được nâng cao. Bác là một người khiêm tốn và luôn giúp đỡ mọi người, nhất là những anh em trong giới văn nghệ sĩ. Cho nên nhiều nhà học giả, nhà văn, nhà thơ tất cả đều quí mến bác. Nhà văn Nguyễn Thụy Long cho biết , có nhiều vị thức giả nói với ông là “ Bác Khai Trí không khen được thì thôi, chứ có gì đâu để mà nói xấu”. Và ông cũng đã đồng thuận với các nhà thức giả rằng bác Khai Trí là người làm được nhiều công việc lợi ích cho văn hóa Việt Nam, chỉ có Cộng sản thì phủ nhận công lao của bác. Cộng sản Việt Nam coi bác là một tội phạm, họ liệt bác vào hàng “văn nghệ sĩ phản động” và bị bỏ tù, vì họ cho bác là người kinh doanh và phát triển văn hóa đồi trụy. Họ cho đốt sách và tịch thu nhà sách của bác. Thực tế, nhà sách Khai Trí có hòanh tráng và đồ sộ như mọi người đều biết là do công sức làm nên từ sự cần kiệm bằng mồ hôi nước mắt của bác Nguyễn Hùng Trương ( tức ông Khai Trí)  tích lũy từ khi còn là một học sinh trường trung học Pétrus Ký. Bác Trương đã nhịn ăn những phần quà của mình hằng nhiều năm lấy tiền đầu tư vào sách báo. Và “ Kiến tha lâu đầy tổ”, cái “ tổ  Khai Trí”  đã đầy đặn dần theo năm tháng trở thành nhà sách Khai Trí vĩ đại nhất miền Nam và cho cả nước.
Việc bác Khai Trí mất để lại cho giới cầm bút và những nhà làm văn học miền Nam nói riêng và cả nước nói chung một sự thương tiếc vô bờ. Nhiều viên chức văn hóa của chế độ hiện tại hiểu chuyện về tấm gương cao cả của bác một đời chỉ vì sách cho văn hóa dân tộc đã đến chia buồn cùng tang quyến và đã ghi vào sổ tang lưu niệm. Cũng có người bày tỏ tình cảm của mình qua các diễn đàn hoặc trên các mặt báo. Với cảm nghĩ riêng tư nhiều người đã phê bình thẳng thắn chế độ hiện tại về việc  tịch thu nhà sách của bác Khai Trí với những giọng châm biếm chua chát : “Chỉ có bán sách mà bị tịch thu gia sản, đi cải tạo .30 năm rồi mà vẫn chưa chịu trả lại cho người ta. Chuyện nhỏ như vậy không làm được thì kêu xóa bỏ hận thù, hòa hợp hòa giải để làm gì.” (H4H) “ Nghe tin ông chủ Khai Trí mất. Buồn! Còn nhớ ( nếu trí óc voi còn tí ti!) Năm 1963, sau ngày “ cách mạng” 1-11-1963, nhà sách của ông bị đốt! Và sau ngày đổi đời 30-4 – 75 nhà sách của ông lại thêm một lần được …đốt! Chữ nghĩa bị đốt hai lần ! Chả trách bây giờ thiên hạ dùng chữ …..nghe tủi quá! “ Văn” với “ hóa” !! Chả trách…..văn thì ….ngọng! Hóa thì …..chỉ có “ ra …tro”! Đúng là….hát ra trò!!! Voi xin vái lạy hai chữ “ cách  mạng” dù “ cách mạng” thời xưa hay thời nay cũng đều là ……” cách cái …..mạng” !!! hm…(Alien) . “ Xin được nghiêng mình kính tiễn ông Khai Trí. Cảm ơn Sàigòn đã cho tôi  những khoảng thời đẹp . Sàigòn một quãng đời ấu thơ, lúc tôi còn được nuôi dưỡng bằng những cái hay, cái đẹp  với những quyển sách hay trong nhà sách Khai Trí” .
“ Nói đến nhà sách Khai Trí là nhắc nhớ đến một thời đi học , một thời lang thang phố thị , để gió nghịch tà áo dài, để nắng đùa lên mái tóc, thả bộ từ chợ Bến Thành đến nhà sách.
Đến nhà sách, đôi khi không để làm gì, chỉ ngó những quyển sách được sắp xếp trên kệ ngăn nắp, nhìn những bìa sách vừa khô mảng mực, được ngửi mùi giấy mới. Đã đủ vui.
Học trò để dành tiền mua sách đọc. Sách đây được kể từ những quyển truyện tình cảm nhẹ nhàng Duyên Anh, Đinh Tuyến Luyện, Từ Kế Tường, dần dần lên sách dịch, giỏi hơn chút nữa lịch sử thế giới, lịch sử Việt Nam. Đọc dần sang triết hiện sinh, triết đông triết tây, có những quyển nghe các anh nói cũng mua về làm dáng cho oai, chẳng hiểu gì cả. Phạm Công Thiện, Dương Nghiễm Mậu một ông viết trên trời một ông viết dưới đất. Cũng đọc.
Thay vì ăn bò bía, đậu đỏ bánh lọt, tiền vào nhà sách khai trí. Đến bây giờ nghĩ lại,mới biết hy sinh bò bía đậu đỏ bánh lọt cũng có cái lý của nó. Có những điều đã đọc lâu quá nên quên, nhớ nhập nhằng đọan này vào khúc nọ, nhưng ý tình đã thấm vào máu nên chẳng mất đi đâu.
Nghe nhắc đến Sàigòn , nghe nhắc đến Tài Nam , Kim Châu, Cháo cá chợ cũ , mường tượng những hình ảnh xưa cũ , màu tường vàng nhạt, cổng rêu phong bám, con đường vòm lá me xanh. Nhớ đến nụ cười xưa cũ, nụ cười lịch sự cúi chào, áo sơ mi trắng , quần tây xanh dương.
Nghe tin Sàigòn bây giờ, tiến bộ vượt bực, vũ trường nhiều hơn trường học , tuổi trẻ đốt cháy tuổi xuân, chợt nhớ Sàigòn xưa cũng xóm nhà ổ chuột, cũng nhà nghèo thiếu ăn, cũng gái giang hồ nhạt phấn, nhưng chắc một điều, nhà ổ chuột , nhà nghèo thiếu ăn, gái giang hồ nhạt phấn cũng có thể tìm vào nhà sách Khai Trí . Ngoi lên. ( Ngô Đồng)
Bác Khai Trí ra đi còn mang  theo một hòai bảo lớn , mà khi sinh tiền bác chưa thực hiện , hoặc đã thưcï hiện một phần nào. Đó là việc thực hiện một nhà sách tương đối lớn, đầy đủ ở hải ngọai cho người Việt mục đích là bảo tồn và phát triển ngôn ngữ Việt Nam. Mặt khác bác cũng mong xin lại được nhà sách đã hơn 25 năm bị nhà cầm quyền cộng sản quản lý. Khi sinh tiền bác cũng hiểu rằng việc xin lại nhà sách là một điều mò kim đáy biển, cho nên bác đã chua chát trả lời rằng: “ phải đến năm 3000 thì may ra…” với bạn bè và những ai khi hỏi đến việc xin lại nhà sách của bác. Giờ đây niềm hy vọng dù cho tới năm 3000 cũng sẽ không còn cơ hội. Bác Khai Trí, ông vua sách nhà tỉ phú xuất bản sách không còn nữa để tiếp tục đấu tranh với nhà nước cộng sản giành phần thắng tài sản của mình , khi chế độ độc tài vẫn hãy còn  bác thì đã mất.
Chúng tôi, những người hậu sinh nhưng hiểu  nỗi tâm trạng của bác . Chúng tôi thành thật cầu nguyện cho linh hồn bác được an lạc nơi cõi vĩnh hằng và hy vọng những  năm tới đây, những tài sản của người dân bị nhà nước cộng sản tịch thu trái phép sẽ được trả lại cho một cách công bằng cho người dân . Và nhà sách Khai Trí là một trong những tài sản sẽ trả lại cho người thân của bác  một cách đoàng hòang trong  hệ thống luật định mới.
                                                                                                         DUY VĂN  HÀ ĐÌNH HUY

TƯỞNG NIỆM MỘT NGƯỜI THẦY



DUY VĂN HÀ ĐÌNH HUY

Sáng Chủ Nhật 16 tháng 3 năm 2003, tại Preet Balace số 1125 Santa Clara, St. Hội Cựu Sinh Viên Sĩ  Quan Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia Bắc CaLi ( SVHVCSQGBCA) tổ chức long trọng lễ tưởng niệm cố Đại Tá Đàm Trung Mộc, vị Viện Trưởng đầu tiên của Học Viện Cảnh Sát Quốc GiaViệt Nam. (HVCSQGVN) Có hơn 500 Cựu Sinh Viên Sĩ Quan các khóa cùng gia đình tham dự. Ngoài ra có Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình, nguyên Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, Niên Trưởng Cựu Trung Tá Nguyễn Mâu, Cựu Đại Tá Đặng Văn Minh,Cựu Trung Tá Phạm Công Bạch Phó Viện Trưởng HVCSQG, Cựu Thiếu Tá Ngô Bá Phước Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn Sinh Viên Học Viện CSQG Việt Nam,Tiến Sĩ Trần An Bài, Luật sư Nguyễn Duy Tiếp, Bác sĩ Bùi Hữu Hồng, Bác sĩ Phạm Đức Vượng, Bác sĩ Nguyễn Đức Lai, Linh Mục Vũ Ngọc Đáng, Thượng Tọa Thích Trí Lãng, Ông Nguyễn Văn Lầu Hội Trưởng Ban Tri Sự Phật Giáo Hòa Hảo BCA, Ông Nguyễn Tấn Lộ, Trần Quang An Tổng Hội Trưởng Liên Hội Cảnh Sát Quốc Gia (LHCSQG), Niên Trưởng Nguyễn Hữu Trương cựu giảng sư Học Viện, Niên Trưởng Phạm Đình Lý,Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Nguyễn Văn Diệp Tổng Hội Phó Tổng Hội CSQG, Trương Ngọc Hòa, Lê Thanh Sơn, Nghiêm Xuân Phú Cương, Dương Quang Trí, Phạm Văn Quyết, Trần Hoàng Nam, Nguyễn Văn Sơn, Nguyễn Văn Giàu, Nguyễn Ngọc Tuấn, Dương Thanh Chiến, Cô Đàm Thu Phương và một số Niên Trưởng CSQG đến từ khắp nơi trên thế giới.
Sau những thủ tục nghi thức lễ tưởng niệm như : chào cờ; mặc niệm. Được sự giới thiệu của MC Tiến sĩ Trương Đại Hồ, cựu sinh viên sĩ quan Thái Văn Hòa trưởng ban tổ chức ngỏ lời cảm ta ïđến quí lãnh đạo tôn giáo, hội đoàn và đoàn thể, đồng thời nêu lên mục đích của lễ tưởng niệm."Hôm nay dưới lá quốc kỳ tượng trưng cho hồn thiêng sông núi của đất nước, dưới lá cảnh kỳ tượng trưng cho màu cờ và sắc áo của lực lượng,với phù hiệu cảnh sát quốc gia tượng trưng cho trường mẹ,chúng tôi những cựu sinh viên sĩ quan từ khắp nơi tề tựu về nơi đây để cùng nhau tưởng niệm cố đại tá Đàm Trung Mộc, người cha già của hàng ngàn đứa con Học Viện thân yêu mà người đã từng chăm sóc, dạy dỗ. Trong tinh thần "tôn sư trọng đạo","uống nước nhớ nguồn","ăn trái nhớ kẻ trồng cây". Chúng tôi tổ chức lễ tưởng niệm mục đích để nhớ ơn ông, người thầy ,người cha trong gia đình Học Viện CSQG".
TIỂU SỬ CỐ ĐẠI TÁ ĐÀM TRUNG MỘC
Cố Đại Tá Đàm Trung Mộc, sĩ quan CSQG thuần túy, nổi tiếng là vị chỉ huy thanh liêm, người là một trong hai viên chức phục vụ lâu năm nhất và có cấp bâc cảnh sát cao nhất, ngạch trật QUẬN TRƯỞNG THƯỢNG HẠNG NGOẠI HẠNG. Cố Đại Tá Đàm Trung Mộc sinh ngày 28 tháng 9 năm 1917 tại làng Hương Mạc, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Năm 1942 tốt nghiệp Cử nhân Luật khoa, trường Đại Học Luật Khoa Hà Nội, được cử làm Biện Lý. Năm 1950 được cử giữ chức vụ Chánh sở Tư Pháp Nha Cảnh Sát miền Bắc cho đến năm 1953.
Dưới thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa, cố Đại tá Đàm Trung Mộc được cử giữ nhiều chức vụ quan trọng tại Tổng Nha Cảnh Sát như : Chánh Sở Tư Pháp,Chánh Sở Tổng Nghiên Cứu, Phụ Tá Tổng Giám Đốc Cảnh Sát đặc trách khối Huấn Luyện kiêm Viện Trưởng Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia,nhờ ở trình độ học vấn uyên bác và kinh nghiệm chuyên môn. Cố Đại Tá Đàm Trung Mộc là một chuyên viên tư pháp thượng thặng,đã dày công biên soạn nhiều sách luật về hình luật tổng quát,hình luật đặc biệt và hình sự tố tụng để làm tài liệu giảng dạy cho các sinh viên sĩ quan cảnh sát và dùng làm kim chỉ nam cho các sĩ quan tư pháp cảnh lại trong khi thi hành nhiệm vụ.
Từ năm 1965,do nhìn xa thấy rộng sự lớn mạnh tất yếu của ngành CSQG nên cố Đại Tá Đàm Trung Mộc đã dồn hết tâm trí vào công trình nghiên cứu và đề nghị thành lập Học Viện CSQG, nhằm mục đích đào tạo lớp sĩ quan tre,û có trình độ học vấn cao để điều hành guồng máy CSQG. Và do đề nghị đó, Học Viện CSQG  đã được thành lập vào cuối năm 1965 và khởi đầu hoạt động với khóa 1 Thẩm Sát Viên và Biên Tập Viên năm 1966 mà người điều khiển là cố Đại Tá Đàm Trung Mộc trong chức vụ Viện Trưởng,cho đến năm 1970.
Sau khi rời Học Viện,cố Đại Tá Đàm Trung Mộc làm việc ở Bộ Nội Vụ trong chức vụ Thanh tra.
Sau biến cố 30-4-75,cố Đại Tá Đàm Trung Mộc bị giam giữ tại trại giam Chí Hòa và bị chuyển ra Bắc vào tháng 12/1976 tại trại giam Vĩnh Quang thuộc tỉnh Vĩnh Phú và sau đó Bộ Nội Vụ VC lại chuyển cố Đại TáĐàm Trung Mộc về giam giữ tại trại tù Hà Tây cho đến ngày cố Đại Tá Đàm Trung Mộc vĩnh biệt cõi trần và cõi tù,ngày 14-11-1982 với cái chết thanh thản, hưởng thọ 65 tuổi.
Những giây phút cuối cùng của cố Đại Tá Đàm Trung Mộc tại trại tù Hà Tây,xin được ghi lại lời kể của Đại Tá Bùi Hữu Đặng,Tổng Nha Tài Chánh Thanh Tra Quân Phí Quốc Phòng,người bạn tù chung buồng với cố Đại Tá Đàm Trung Mộc." Buổi tối trước khi vào buồng giam, trong khi cụ Mộc và tôi đang trò chuyện ngoài sân thì cụ Mộc bổng dưng sờ tay lên trán và nói với tôi rằng cụ không được khỏe,chắc đã bị cảm nắng. Tôi lấy dầu đưa cho cụ Mộc thoa và sau đó khoảng nữa tiếng đồng hồ chúng tôi vào phòng.Cụ Mộc leo lên giừng nằm,15 phút sau cụ Mộc leo xuống đi tiểu gặp tôi đi ngang qua và tôi đã dìu cụ vào phòng vệ sinh. Khi trở ra, cụ Mộc đi đứng có vẽ lảo đảo, tôi dìu cụ trở lại chổ nằm đồng thời bắt mạch thì thấy mạch của cụ quá yếu. Tôi hỏi cụ thấy trong người như thế nào, cụ không nói chỉ lắc đầu. Vì muốn để cụ nằm nghĩ,tôi trở lại chỗ nằm của mình,nhưng nửa giờ sau người bạn nằm cạnh cụ kêu cứu vàsau đó phòng y vụ của trại xuống đưa cụ lên trạm xá. Khi cụ rời buồng trong tình trạng hôn mê."
Cùng với lòng thương tiếc, kính trọng một vị thầy,lễ niệm hương và nghi thức đọc văn tế cũng đã được ban tổ chức đàn thiết long trọng. Bên cạnh đo ùcác cựu  sinh viên của các khóa cũng có những bài nói về công đức của cố Đại Tá Đàm Trung Mộc. Theo cựu sinh viên Trần Khánh Thiện, cố Đại Tá Đàm Trung Mộc là một vị sĩ quan thanh liêm,bình dị,hòa đồng cùng moi người, ông rất can đảm trong mọi tình huống và luôn giữ sĩ khí của một kẽ sĩ.Cựu sinh viên Nguyễn Thanh Giàu thì cho rằng khóa 3 của ông có những đặc biệt gắn bó với cố Đại Tá Đàm Trung Mộc vì là tình thầy trò trong chiến cuộc Mậu Thân, vừa là tình thầy trò trong trại tù cho nên ông đã học từ thầy Đàm Trung Mộc từ Học Viện cho tới trại tù. Ở Học Viện thầy Đàm Trung Mộc cho tôi những kinh nghiệm sống và kiến thức nghề nghiệp về tư cách của một người sĩ quan.Ở trong tù thầy Đàm Trung Mộc cho tôi học thế nào là"uy vũ bất năng khuất" thế nào là tư cách của một người sĩ quan khi ở trạng thái cùng biến. Cho nên trước sự ra đi cố Đại Tá Đàm Trung Mộc đã để lại vết hằn trong tâm tư của ông. Ngày nay làm lễ tưởng niệm cho thầy Đàm Trung Mộc ,không phải là để cho chúng ta thắp nén hương hoặc là để nói lên những lời thương tiếc mà chúng ta phải thực hiện những lời mà thầy Đàm Trung Mộc đã dạy chúng ta. Đó là ba khẩu hiệu: Đối với tổ quốc,đối với danh dự và trách nhiệm của một người sĩ quan CSQG đối với hiện tình đất nước,có như vậy ngày lễ tưởng niệm của thày mới có gía trị.
Cựu nữ sinh viên sĩ quan khóa 1 Đào Thị Điệp đã bày tỏ nổi thương tiếc cố Đại Tá Đàm Trung Mộc mà theo chị thì cố Đại Tá Mộc như là người cha tinh thần của khóa 1.
"Cố Viện Trưởng vất vả vô cùng vì mới lần đầu tiên, khóa 1 đã sinh đôi cả nam lẫn nữ,riêng nữ chúng tôi có tất cả 47 người, ôi thôi thì đủ chuyện nào nơi  ăn, chốn ở, di chuyển,việc học chung quân sự với các nam sinh viên v. v. đã làm cho cha già nhiều phen nhức óc. Nhưng chúng tôi có để ý gì để chia xẻ những khó khăn với người,bây giờ nghĩ lại chỉ còn ân hận và cầu mong cha thứ lỗi cho những đứa con còn non dại ngày nào. Nhân hôm nay, ngày giỗ người cha tinh thần của chúng tôi. Một lần nữa chúng tôi xin đa tạ quí vị đã cho chúng tôi nói lên tâm sự của những người con đã mất đi người cha kính mến, cố Đại Tá Đàm Trung Mộc." 
Tỏ hơn lòng thương tiếc đối với Cố Đại Tá Đàm Trung Mộc, chị cũng có một bài thơ thương tiếc về người.
KHÓC CHA NGÀY GIỖ.
Ngày giỗ cha con không khóc được
Tiếng nấc thầm đã nghẹn trong tim
Vì sao con mãi đi tìm
Tình cha như thể rừng sim trên đồi

Giỗ cha già nhưng con không nghĩ
Cha đã đi về với Tổ-Tiên
Cha con hiển hiện dương gian
Còn lo chăn dắt đàn CÒ cút côi

Ngày giỗ cha buồn hiu buồn hắt
Mới ngày nào cha bắt tay ta
Sao nay cha đã lìa xa
Đàn con côi cút bôn ba khắp trời

Cha linh thiêng thương đàn con dại
Hãy phò trì cho chúng gặp may
Đứa nào đã ở ngoài này
Cha giúp cho chúng có ngay việc làm
Còn những đứa chưa qua được bến
Tìm tự do cha cũng chỉ bày
Ở lại không chóng thì chày
Không nghèo,cũng đói ở ngay quê mình

Cha đã biết ngục hình tù tội
Vóc gầy còm chịu được bao lâu
Mặc cho DUNG,PHƯƠNG khẩn cầu
Mặc cho vợ dại dập đầu lạy van

Chí đã quyết Trường sơn không chuyển
Hãy đi đi và để mặc ta
Đấy là tiết tháo nhà nho
Không đi,chẳng muốn học trò rẽ khinh,

Nụ cười khinh mạng cha nào ngại
Dù đoạn đầu đài có dựng lên
YÊN BÁI- THÁI HỌC nêu tên
Nay cha nào sợ xích xiềng hỡi con.

Đi là có tự do,no ấm
Cha chẵng màng,bia đá chẵng ghi
Chỉ còn bia miệng thi phi
Nên cha chọn lối TƯỚNG đi theo thành

Cha đã quyết hy sinh vì nước
Quản thân già vị Quốc vong thân
Thà rằng cha cịu chết vinh
Còn hơn sống nhục,cực hình xá chi

Vận nước nổi trôi thân chẳng kể 
Hồng trần giũ sạch chẳng cần gì
Bây giờ cha đã ra đi
Chúng con thương tiếc lấy gì báo ơn

Chỉ còn biết thắp hương ngày giỗ
Mong cha về phò hộ chúng con
Xin cho mọi sự vuông tròn
Dẫn đàn con lạc bốn phương quay về 

Nhìn đất tổ cha thề chẳng bỏ
Dang hai tay ôm giữ Quê Hương
Nhìn đàn con dại tứ phương
Mỉm cười cha mãi dõi đường con đi

Con sẽ về cùng cha dựng lại
Quê hương mình ai lại chẳng thương
Có cha cầm giữ biên cương
Chúng con nhất quyết theo gương cha già

Và cũng chính tay cha rộng mở
Đón chung con ở cửa NAM QUAN
Anh em rồi lại họp đoàn
Một nhà Dân Việt vinh quang ,Thái Bình.
Trong niềm xúc động luyến tiếc  một người thày,một người anh,niên trưởng Trần Quang An,Tổng Hội Trưởng CSQG hải ngoại đã nói:" Hôm nay cụ Đàm  Trung Mộc không còn nữa,mái trường Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia cũng không còn,nhưng mà tinh thần Đàm Trung Mộc vẫn còn và tinh thần Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia vẫn bất diệt trong lòng tất cả anh chị em chúng ta…….Ông nói rằng Đại Tá Đàm Trung Mộc là sĩ quan cao cấp trong ngành CSQGViệt Nam mà khi quá cố đã có những buổi tưởng niệm long trọng  như vầy,là vì ông là người có tài có công đào tạo và xây dựng lớp cán bộ ưu tú cho LLCSQG.Vàcũng vì công lao đó cộng với tinh thần "Tôn sư trọng đạo" nên mỗi năm đều được tưởng nhớ đến. Oâng chân thành bày tỏ lòng kính phục đối với cố Đại Tá Đàm Trung Mộc"
Trong hồi tưởng chân tình, niên trưởng Phạm Công Bạch, cựu phó Viện Trưởng Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia nói rằng ông đối với Đại Tá Đàm Trung Mộc không có xa lạ gì. Cụ Đàm Trung Mộc là đàn anh của ông, và khi mới vào ngành CSQG người đầu tiên ông trình diện là cụ Đàm Trung Mộc, sau khi trình diện Tổng Giám Đốc CSQG.Trên quan niệm canh tân ngành CSQG vốn đã có tai tiếng và để thực hiện ý niệm của cụ Mộc làtrẻ trung hóa lực lượng CSQG, nên ông và một số anh em (ngạch quận trưởng đồng hóa) đã cùng cụ Mộc quyết phát triển Học Viện CSQG,nhưngvì tình hình đất nước,tình hình chính trị nên người CSQG thuần túy khó có thể thực hiện được những hoài bảo của ngành và những người cảnh sát thuần túy thực thụ thì nhiều khi không được sử dụng một cách chính đáng và đã phải nhường lại cho cái sự xâm lấn của một số quân đội biệt phái sang bên ngành ( ông xin lỗi ở đây không phải là sự phân cách,mà đó là một thực trạng) và nắm giữ luôn cả ngành cảnh sát. Và theo ông Cụ Mộc vì giữ gìn tiết tháo của kẻ sĩ , không phục tòng những người mới sang cho nên đã phải nhường chức Viện Trưởng Học Viện CSQG cho người khác,nhưng những người khác không ai xa lạ,chính là đàn em của người.Trong lúc làm nhiệm vụ với vai trò phó Viện Trưởng ông luôn thường thỉnh ý kiến của cụ Mộc mặc dù cụ Mộc, lúc ấy đã không còn là Viện Trưởng Học Viện nữa.Và theo ông thì Học Viện đã không để cho ai nói một lời nào phê bình rằng Học Viện kém khả năng hay là không đủ chỉ tiêu,niềm hãnh diện này là nhờ vào đường lối cố Đại Tá Mộc đã vạch ra và ông cùng các bạn ông đã thực hiện.
 Ông nghiêng mình kính cẩn trước hương linh của Đại Tá Mộc và cầu mong tinh thần "liên minh" của Đại Tá Mộc còn tồn tại mãi trong tâm hồn của mỗi người CSQGViệt Nam.
Cô Đàm Thu Phương ái nữ của cố Đại Tá Đàm Trung Mộc đến từ Canada thay mặt cho gia đình cám ơn ban tổ chức và các tôn giáo, hội đoàn ,đoàn thể . Nhân tiện cô xin được tâm sự với những cựu sinh viên sĩ quan vốn là học trò của ba cô từ trước. Cô nói:"Em thay mặt anh em của em trong gia đình cám ơn các cựu sinh viên sĩ quan Học Viện CSQG trước hết và sau,được nói lên những lời tâm tình cùng những người học trò mà lúc còn sinh tiền ba của em rất quí mến và đặt nhiều kỳ vọng. Đối với ba của em, những cựu sinh viên là những sĩ quan ưu tú, là những vị lãnh đạo tương lai của ngành CSQG nói riêng và của quốc gia nói chung.Em rất cảm kích với những cảm tình mà các cựu sinh viên sĩ quan hôm nay đã dành cho ba em,có lẽ ba của em không bao giờ nghĩ đến là thời gian ngắn ngũi huấn luyện tại HVCSQG đã để lại bao nhiêu kỷ niệm sâu đậm trong lòng những người học trò cũ như vậy.Hồi tưởng lại cách đây mấy năm,khi em có dịp sang dự lễ tưởng niệm đầu tiên dành cho ba em do các anh cựu sinh viên sĩ quan khóa 3 tổ chức tại Santa Ana, em vô tình được nghe một mẫu đối thoại hai chú đồng nghiệp với ba em nói chuyện về ông. Một trong hai chú có nói một câu như thế này:" Ông Mộc là một vị sĩ quan ưu tú,ông không  luôn luôn được trọng dụng bởi cấp chỉ huy,nhưng bù vào đó ông đã được đa số các nhân viên rất kính nể . Đây là một câu nói rất đơn giản, nhưng nó vô cùng sâu sắc và rất thấm thía, nó bao gồm tóm tắt lại những dữ kiện xãy ra liên quan đến quá trình sự nghiệp của ba em và ngoài ra nó cũng thể hiện phần cá tính của con người ông,của một người cha mà chúng em rất hãnh diện làm con và cá tính của một người thày mà các anh các chị đã từng nhận thức được từ lâu và ngày hôm nay vinh danh tưởng niệm.Vào biến cố 30-4-75,ông quyết định ở lạivà mãi đến cuối 1980,gia đình mới nhận được một lá thư do chính tay ông viết từ trại Hà Sơn Bình,trong những lá thư đó ông đã khẳng định rất rõ ràng: Ba không có tội gì với tổ quốc,ba chưa hề làm một điều gì hổ thẹn với lương tâm của mình và ông quan niệm rằng thà chết vinh hơn sống nhục. Một đại văn hào của Việt Nam vào thế kỷ thứ 19 là cụ Nguyễn Công trứ có để lại hai câu thơ cho hậu thế như sau:" Nhân sinh tự cổ thùy vôtử,Lưu thủ đan tâmchiếu hãn thanh"(người ta tự cổ ai chẳng chết,lưu giữ lòng son trong sử xanh). Bởi vậy ngày lễ tưởng niệm tại SanJose ngày hôm nay mà các anh, các chị dành cho ba em là một phần thưởng danh dự quí giá, là một món quà tinh thần lớn lao, một niềm an ủi vô biên cho linh hồn của ba em.Bởi vì không ai có thể phán xét một cách chính xác và công bằng về một người thầy, về một vị giáo sư bằng chính những học trò cũ của ông. Em tin chắc rằng từ thế giới bên kia ba em đang mãn nguyện nhìn xuống đây mỉm cười và nụ cười này sẽ mãi mãi nở trên môi của ba em. Thành thật cám ơn"
Đại diện ban tổ chức cựu sinh viên sĩ quan Nguyễn Ngọc Thụy tri ân quí vị lãnh đạo các tôn giáo, quan khách, các niên trưởng các chiến hữu CSQG đã có mặt trong lễ tưởng niệm.

BAN CHẤP HÀNH HỘI CỰU SINH VIÊN SĨ QUAN HỌC VIỆN CSQG

Nhân dịp lễ tưởng niệm Cố Đại Tá Đàm Trung Mộc Viện Trưởng HVCSQG. Hội Aùi Hữu Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Học Viện CSQG đã giới thiệu thành phần Ban Chấp hành niên khóa 2003.
Hội Trưởng Cựu SVSQ: Thái Văn Hòa. Hội Phó Nội Vụ: Đinh Văn Hạp. Hội Phó Ngoại Vụ:  Nguyễn Ngọc Thụy. Tổng Thư Ký:  Trần Bửu Giao. Phó Tổng Thư Ký: Trần Đức Túc. Thủ Quỹ: Nguyễn Văn Cư. Phụ Tá Đặc Trách Kế Hoạch : Trương Đại Hồ. Phụ Tá Đặc Trách Thông Tin Báo Chí: Duy Văn. Phụ Tá Đặc Trách Xã Hội: Hoàng Ngọc Ký. Uûy Viên Thông Tin Báo Chí: Võ Đình Giá. Uûy Viên Kế Hoạch: Nguyễn Hữu Độ. Uûy Viên Xã Hội: Nguyễn Thanh Quang. Uûy Viên Xã Hội: Nguyễn Hiếu.
Được biết Hội Aùi Hữu CSVSQHVCSQG thành lập ngày 6 tháng 10 năm 2002 tại San Jose, do thể theo ý nguyện của đại đa số CSVSQHVCSQG. Việc thành lập hội nhằm  mục đích duy nhất là nối tiếp lại tình thân giữa những cựu SVSQCSQG có chung trường Mẹ để cùng ôn lại những kỷ niệm vui buồn của những ngày tháng ở Học Viện CSQG và cùng chia sẽ buồn vui trong những tháng năm dài còn lại khi tuổi đời của các cựu SVSQ mỗi ngày mỗi cao, cần sự tương thân tương trợ.
Hội Cựu SVSQHVCSQG /BCA là một tổ chức độc lập và tự quản vì sự hình thành và hoạt động của Hội nhằm mục đích ái hữu. Ngoài hoạt động ái hữu trong phạm vi gia đình Học Viện ở BCA, Hội sẵn sàng hổ trợ và chia sẻ buồn vui với các đồng môn và gia đình HVCSQG ở nơi khác, những đồng môn Học Viện CSQG kém phần may mắn còn kẹt ở quê nhà và các chiến hữu CSQG cùng gia đình.
Các cựu SVSQCSQG xuất thân từ Học Viện hiện sinh hoạt trong Hội, tự xem mình là một thành phần trong khối đại gia đình CSQG và có chung niềm tự hào về màu cờ sắc áo. Hội cương quyết không dẫm chân trên các hoạt động cố hữu của các Hội CSQG địa phương nhằm tránh những ngộ nhận sứt mẻ tình đoàn kết.
Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Học Viện CSQG luôn hổ trợ Hội CSQG địa phương và Tổng Hội CSQG Hải Ngoại trong nổ lực xây dựng tập thể CSQG hải ngoại mỗi ngày một vững mạnh, có cùng chung tiếng nói, lập trường chống cộng. Trong các hoạt động đấu tranh cho dân chủ nhân quyền tại Việt Nam và chống mọi hoạt động quấy phá, xâm nhập và tuyên truyền của cộng sản tại hải ngoại. Hội Cựu SVSQHVCSQG/BCA không hoạt động đơn phương mà sẵn sàng hòa mình vào tập thể CSQG và Hội CSQG địa phương.
Hội Cựu SVSQHVCSQG/BCA chủ trương đoàn kết nội bộ LLCSQG và quan tâm đến việc phát huy tinh thần dấn thân của giới trẻ, nhất là thành phần con cháu CSQG. Hội tương kính các Hội Đoàn có tinh thần quốc gia và lập trường chống cộng.
Địa chỉ liên lạc Hội: P.O.BOX 362057.MILPITAS, CA 95036.
Website của Tổng Hội CSQG Hải Ngoại ( www.canhsatquocgia.com).Website của một nhóm cựu SVSQ có thiện chí  và điều kiện thực hiện ( www.hocviencsqg.com).

DUY VĂN HÀ ĐÌNH HUY

AI CŨNG PHẢI HỌC LÀM NGƯỜI

Liên Hải dịch 

  Đại sư Tinh Vân có một người đệ tử, sau khi tốt nghiệp đại học, liền học Thạc sĩ, rồi lại học Tiến sĩ. Sau nhiều năm, cuối cùng cũng đã hoàn thành luận án tiến sĩ nên vô cùng mừng vui. 

Một hôm người đồ đệ này trở về, thưa với ngài Tinh Vân: “Bạch Sư Phụ nay con đã có học vị Tiến sĩ rồi, sau này con phải học những gì nữa?” Ngài Tinh Vân bảo: “Học làm người”, học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được. 

Ngài Tinh Vân cho rằng, bất luận là sĩ nông công thương, người ở tầng lớp nào có học tập là có tiến bộ, nay cùng chia sẻ với mọi người về những điều cần phải học. 

Thứ nhất, “học nhận lỗi”. Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng, thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn. Đối tượng mà mình nhận lỗi có thể là cha mẹ, bạn bè, mọi người trong xã hội, thậm chí nhận lỗi với con cái hay là người không tốt đối với mình, nhận lỗi như vậy bản thân chẳng mất mát gì, ngược lại còn thể hiện được sự độ lượng của bản thân. Học nhận lỗi là một điều rất tốt, là sự tu tập lớn. 

Thứ hai “học nhu hòa”. Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta lại mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên, cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại dài lâu được, chứ cứng làm chi cho chịu thiệt thòi. Tâm nhu hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu tập. Người ta thường hình dung những người cố chấp, thì tấm lòng của họ, tính cách của họ rất lạnh, rất cứng y như một miếng sắt vậy. Nếu chúng ta có thể điều hòa hơi thở, điều hòa thân tâm, dần dần điều phục tâm như ngựa hoang, như vượn chuyền cành này khiến cho nó nhu hòa mềm mại, thì cuộc sống mới vui tươi hơn, mới lâu dài được. 

Thứ ba “học nhẫn nhục”. Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên biển lặng, lùi một bước thì biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không. Các vị muốn sống, muốn sinh tồn, muốn sinh mạng này thì cần phải biết nhẫn, có thể hiểu rõ những đúng sai, thiện ác, tốt xấu của thế gian, thậm chí chấp nhận nó. 

Thứ tư “học thấu hiểu”. Thiếu thấu hiểu lẫn nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm. Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được? 

Thứ năm, “học buông bỏ”. Cuộc đời như một chiếc va li, lúc cần dùng thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống lại không đặt xuống, cũng như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, nhận lỗi, tôn trọng, bao dung, mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết buông bỏ thì mới có thể tự tại được. 

Thứ sáu “học cảm động”. Nhìn thấy ưu điểm của người khác chúng ta nên hoan hỷ, nhìn thấy điều không may của người khác nên cảm động. Cảm động là tâm thương yêu, tâm bồ tát, tâm bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi, có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động. 

Thứ bảy “học sinh tồn”. Để sinh tồn chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh, thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu để với người thân. 

Chúc bạn bè thân hữu cùng cố gắng! 

 
Liên Hải dịch