Thứ Tư, 18 tháng 12, 2013

TIẾNG VIỆT HAY QUÁ


HÀ ĐÌNH HUY

Hội Trường Văn Hóa Trung Tâm VIVO, số 2260 Quimby Road, không còn một ghế trống nào để cho quan khách ngồi tham dự buổi ra mắt tập sách “ Tiếng Việt Hay Quá! “ của nhà văn Nguyễn Hữu Nhật đến từ Na Uy. Đó là lời nhận xét của chị Loan Quỳnh một tham dự viên . Và cũng theo lời của Giáo Sư Ngô Đức Diễm thì số người đã đong đầy hơn số ghế  có trong hội trường. Một người khác cho rằng : “ Buổi ra mắt tập sách Tiếng Việt Hay Quá! Của nhà văn Nguyễn Hữu Nhật đã thành công mỹ mãn.
Vào khoảng 2 giờ 30, sau khi MC Hoàng Ngọc Văn đã thông qua các thủ tục nghị lễ và giới thiệu các quan khách cũng như các cơ quan truyền thông trong vùng, MC Thủy Tiên đã trình diện nhà văn Nguyễn Hữu Nhật với các tham dự viên, ông chào mừng và cám ơn đồng bào tới tham dự. Trong phần cám ơn đặc biệt ông đã đề cập đến các mạnh thường quân: Hoa Hậu Bích Liên, ông Nguyễn Hùng Tâm Chủ nhiệm Tuần Báo Đời Mới , nhà thơ Song Linh các cơ quan truyền thông đã yểm trợ vật chất, đăng tải hoặc phỏng vấn, phát thanh tin tức nội dung buổi ra mắt. 
Nhà thơ Ngô Đức Diễm đảm trách phần giới thiệu tác giả. Theo nhà thơ Ngô Đức Diễm là ông chỉ hân hạnh gặp được nhà văn Nguyễn Hữu Nhật trong Hội Tết Fairgrounds Aát Dậu, nhưng lần gặp này ông như đã thấy thân quen từ lâu vì tên tuổi tác giả được nhiều người biết đến từ lâu trong giới văn học nghệ thuật. 
Tác giả Nguyễn Hữu Nhật sinh năm 1942, và là bố vợ của Dương Kiền , một trong những nhà thơ có tiếng ở Việt nam cùng với Võ Hồng và Quách Tấn.
û  Ôâng là một nhà văn nổi tiếng,đã có 22 tác phẩm xuất bản, gồm truyện ngắn, truyện dài , tùy bút và thơ. Năm 2005 cho xuất bản cuốn tiểu thuyết dày 2000 ngàn trang với tên Thời Của Qủy. Oâng còn là một họa sĩ nổi danh, đã đem ngôn ngữ sắc màu vào 11 cuộc triễn lãm tranh sơn mài và tranh dầu tại Aâu Châu. Oâng còn là một nhà báo. Trước kia là Trưởng phòng báo chí Tiểu Khu Gia Định. Nay là chủ biên Tạp Chí Hương Xa tại Oslo Na Uy. Oâng cũng kiêm luôn cả nghề xuất bản từ năm 1970 tại Sàigòn và từ năm 1990 tại hải ngọai. Điểm đáng nói là tác giả Nguyễn Hữu Nhật là một chiến sĩ văn hóa, đã bị CSVN bắt bỏ tù trong Vụ Aùn Văn Học cùng với Dõan Quốc Sĩ , Hiếu Chân, Khuất Duy Trác và Dương Hùng Cường.
Cũng theo nhà thơ Ngô Đức Diễm, thì ông rất cảm phục tác giả vì ông cho rằng tác giả là người biết thưởng thức hương vị cõi đời như một con người biết làm người và làm người Việt Nambởi tác giả đã chia sẻ được 4 nghệ thuật làm đẹp cuộc sống . Đó là biết cách ăn cho thật ngon, nói cho thật hay,cuời cho thật vui, và chơi cho thật đã và hơn nữa là biết làm người Việt Nam, yêu quê hương, yêuvăn hóa và nhất là yêu tiếng Việt.
Giáo Sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh bàn về tác phẩm . Theo Giáo Sư Vinh : Đây là một công trình nghiên cứu văn học có chất lượng mà nhà văn Nguyễn Hữu Nhật bỏ ra nhiều thời giờ để hòan thành . Sách có 214 trang chưa kể những trang phụ lục, được chia ra làm nhiều phần. Mỗi phần tác giả nói lên tính đặc biệt của tiếng Việt. Đặc biệt trang đầu “Nghe và Nói” nhà văn Nguyễn Thị Vinh như đã viết thay lời tựa cho tác giả đề cập đến tính ưu việt của chất tiếng Việt và mở đầu giới thiệu tùy bút “ Tiếng Việt Hay Quá!” một cách tài tình. Những chương khác tác giả đều bàn đến những khía cạnh thuần đặc điểm thế nào là sự hay quá của tiếng Việt, đồng thời tác giả cũng dẫn chứng ra  những tác phẩm lớn, những đỏan văn hay có ý nghĩa và cú pháp cao để biện minh đặc điểm độc nhất  chỉ có tiếng Việt mới thật sự là hay quá! Những mẹo vặt trong ngôn ngữ tiếng Việt cũng đã được tác giả chú trong đến. Cuối cùng trang phụ lục “ Ca Dao Nguyễn Hữu Nhật “ nhẹ nhàng đi sâu vào vào tâm hồn người Việt với những từ ngữ giản dị , biểu hiện lên một điểm nhằm giải thích thế nào là Tiếng Việt Hay Quá! Của tác giả Nguyễn Hữu Nhật
Chương trình văn nghệ phụ diễn, tặng hoa cho các mạnh thường quân, những khách ở xa và nghệ sĩ cũng được nhóm tổ chức thực hiện thật tế nhị và tốt đẹp. Các ca sĩ Đan Hùng , Thiên An  Nguyên Nhu và Triệu Minh lần lượt trình diễn những tiết mục : Ngâm Thơ và hát những những bản nhạc tình cảm quê hương của các tác giả : Hà Đình Huy, Sương Mai, Phạm Duy ….Nhà thơ Song Linh đại diện cho các nhà mạnh thường quân nhận hoa từ thi sĩ Ngọc Bích trao tặng. Các giáo sư Tòan Phong Nguyễn Xuân Vinh, Ngô Đức Diễm, Thiên An, Triệu Minh và tác giả Nguyễn Hữu Nhật nhận hoa từ Hoa Hậu Bích Liên, bà Hòang Ngọc Văn ,Ngọc Thủy, Trường Giang và Duy Văn.
Buổi ra mắt tập Tùy Bút “ Tiếng Việt Hay Quá!” chấm dứt vào lúc 4 giờ, sau lời nhiệt thành cảm tạ của tác giả đến với nhóm thân hữu tổ chức , các quí mạnh thường quân, các nhạc sĩ Luynh Phương, Vân Trang và đồng bào đến tham dự.
                                                                                           HÀ ĐÌNH HUY

PHÁO BINH BẮC CALI HỌP MẶT TÂN NIÊN

11 giờ 30phút sáng chủ nhật  ngày 6-3-2005,tại nhà hàng Phú Lâm thuộc thành phố San Jose, hàng trăm chiến hữu ngành Pháo Binh VNCH và thân hữu đã họp mặt đầu năm. Theo Pháo thủ Nguyễn Hữu Nhân và Mạc Văn Thuận thì cuộc họp mặt là nhằm mục đích để các chiến hữu trong ngành Pháo Binh có dịp hàn uyên tâm sự , chia sẻ với nhau những niềm vui buồn trong cuộc đời xa xứ và kiểm điểm lại sự thông tin mất còn về nhân sự trong các chiến hữu ngành Pháo Binh ngụ trong vùng Bắc Cali. Bên cạnh đó cũng để bầu lại ban chấp hành của Hội Aùi Hữu Pháo Binh Bắc Cali.
Được biết trong những năm qua, ban chấp hành cũ gồm có những chiến hữu: Nguyễn Hữu Nhân, Trần Trung Sơn, Mạc Văn Thuận, Uông Văn Lễ……đã hết nhiệm kỳ. Và nay theo nhu cầu mới để có một ban chấp hành mới để điều hành Hội trong thời gian tới đây. Cho nên họp mặt tân niên lần này cũng là dịp bầu lại một ban chấp hành gồm nhiều thành phần nhiệt tình và năng nổ, uy tín  để cùng sinh họat với các hội đòan bạn trên nhiều lãnh vực cần thiết giúp cho cộng đồng và đất nước.
Sau Phần phát biểu của Trung Tướng Lâm Quang Thi, thành phần ban chấp hành cũ đã trình diện trước các quan khách và tuyên bố hết nhiện kỳvà sau đó bầu lại ban chấp hành mới. Qua lời đề nghị và kêu gọi của ban tổ chức cũng là lời yêu cầu của hầu hết các pháo thủ có mặt . Ban chấp hành cũ được lưu dụng trở lại và tăng cường thêm một chức vụ chủ tịch hội. Trung Tá Kiên đã được đề cữ và đã đồng bý giữ chức vụ chủ tịch Hội. Theo một số chiến hữu Pháo Binh  thì Trung Tá Kiên như là một người rất có tài xuất thân từ khóa 10 trường Võ Bị Đà Lạt đã giữ nhiều chức vụ quan trọng trong ngành Pháo Binh và đã từng du học sang các nước Pháp, Hoa Kỳ …ông còn là một tronmg những thông dịch viên gỏi trong ngành Pháo Binh QLVNCH.
Buổi tiệc tân niên ngành Pháo Binh Bắc Cali cũng chấm dứt sau những chương trình văn nghệ karaoke với những bài họp ca hùng hồn của các chiến hữu Pháo Binh Bác Cali.

QUA ĐỒI TRINH NỮ 
Tập truyện dài “ Hoa Đồi Trinh Nữ” của tác giả Thảo Nguyên được ra mắt tại Khu Tù Nhân Chính Trị Bắc Cali được ủng hộ nồng nhiệt của các chiến hữu Biệt Động Quânvà các đồng hương cũng như giới truyền thông báo chí tại địa phương.
Tác giả đến từ tiểu bang Texas, theo ông Đặng Hiếu Sinh thì tác giả là cựu sinh viên Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt và trước đây phục vụ trong binh chủng Biệt Động Quân với chức vụ đại đội trưởng đại đội 4tiểu đòan 36 BĐQ. Sinh trưởng tại miền Bắc và di cư vào Nam học các trường trung học ở tỉnh Quảng Ngãi,là một cấp chỉ huy gan dạ bị thương nhiều lần trên chiến trường đặc biệt là bị thương nặng trên chiến trường đất đỏ Phước Tuy năm 1974. Tù cải tạo 6 năm. Vượt biên năm 1982 và hiện nay định cư tại Texas Hoa Kỳ.
Theo ông Trương Văn Vấn người Viết lời tựa cho tập truyện dài “ Qua Đồi Trinh Nữ” và cũng là người giới thiệu tác phẩm của ngày ra mắt thì: tác giả đã thay nghén tác phẩm này nhiều năm và mãi đến những năm gần đây mới sinh ra được. Chất liệu trong tác phẩm hầu hết là chuyện thật đôi khi pha lẫn một ít hư cấu cho tăng phần hoa văn và nhẹ nhàng trong những câu chuyện dễ chuyển mạch.Vì tác giảlà một quân nhân ngành chính tranh chính trị nên việc viết lách thật là nhại bén trong việc tranh đấu tư tưởng giữa những sự quyết định tâm lý dứt khóat trong câu chuyện và những nhân vật trong câu chuyện được dàn doing. Tuy nhiên như đã nói hphần lớn đều là chuyện thật nên sự việc trong những câu chuyện mà tác giả đã trải dài trên 14 chương kết thúc thật phủ phàng theo hòan cảnh thực tiễn của một vụ kết thúc. Theo Trương văn Vấn: bối cảnh cốt chuyện trong “ Qua Đồi Trinh Nữ” chỉ là một trại lính tiền đồn và những quan hệ của họ với thân nhân, những mối tình trai gái ,công khai hoặc vụn trộm trong thời chinh chiến. ….Đặc biệt là tình yêu của một vị sĩ quan trẻ chỉ huy một đơn vị tuyến đầu với một người con gái vừa Kinh vừa Thượng 
Còn nhà văn Diệu Tần và Diên Nghị thì nhận định “ Qua Đồi Trinh Nữ” theo một khía cạnh khác . Diệu Tần đã hết lòng ca ngợi tác phẩm “ Qua Đồi Trinh Nữ” như là sự xuất hiện một thiên phóng sự về những tình tiết của những chiến binh trong thời chiến, nó phản ảnh lên tính trung  thực của con người lính chiến đấu cho lý tưởng mình theo đuổi, những hiện tượng bắt gặp thường ngày trên hầu hết các chiến trường và ngay sau những phút giao tranh. Oâng cũng nhấn mạnh về bố cục của tập truyện và cho rằng đây là một tập truyện có bố cục tương đối mạch lạc và vững chải.
Còn Diên Nghị thì thật tình khen ngợi tập sách không có nhiều lỗi chính tả và đây là cuốn sách mà mỗi chiến hữu cần có để thao thức lại với những thời đã qua của mình hay nói cách khác là ôn lại những trong đời binh ngũ  cam go  gian khổ đấu tranh để bảo vệ lý tưởngquốc gia. Hình thức tập sách dễ nhìn không cầu kỳ với quá nhiều màu sắc tối tăm lượm thượm.
Chương trình văn nghệ phụ diễn xảy ra xen kẽ vào chương trình giới thiệu tác phẩm và tác giả thật nhịp nhàng. Sự nhịp nhàng và trôi chảy đó là do sự điều họp thật tế nhị của MC Đào Trung Chính. Đó là lời nhận xét của một thành viên tham dự. Buổi ra mắt kết thúc trong chiều sau nhiều tiết mục ca nhạc .

HÀ ĐÌNH HUY
                            


VĨNH BIỆT ÔNG KHAI TRÍ

DUY VĂN HÀ ĐÌNH HUY

 Sau bài viết của nhà văn Nguyễn Thụy Long “ Vĩnh Biệt Ông Khai Trí” . Nhiều văn nghệ sĩ  cũng như giới cầm bút trong và ngoài nước đã có những bài viết cảm nghĩ về cuộc đời của bác Khai Trí.Trong số người nói lên những cảm nghĩ đó, có người hiện đang là những viên chức thuộc ngành văn hóa của chế độ hiện tại.
Hầu hết họ đều có một nhận cảm chung : Bác Khai Trí là một người một đời chỉ có sách báo và cho sự mở mang kiến thức dân tộc. Thuở nhỏ bác là một học sinh ngoan hiền, đam mê sách báo và có cuộc sống giàu sang sung túc cũng từ sách báo. Bác là một con người làm sách, làm văn hóa qua sách báo, bác mong muốn trình độ kiến thức của dân tôc mỗi ngày một tăng thêm, để người dân Việt thấy được nền văn minh của nước ngoài và rồi theo đó học tập để đời sống được nâng cao. Bác là một người khiêm tốn và luôn giúp đỡ mọi người, nhất là những anh em trong giới văn nghệ sĩ. Cho nên nhiều nhà học giả, nhà văn, nhà thơ tất cả đều quí mến bác. Nhà văn Nguyễn Thụy Long cho biết , có nhiều vị thức giả nói với ông là “ Bác Khai Trí không khen được thì thôi, chứ có gì đâu để mà nói xấu”. Và ông cũng đã đồng thuận với các nhà thức giả rằng bác Khai Trí là người làm được nhiều công việc lợi ích cho văn hóa Việt Nam, chỉ có Cộng sản thì phủ nhận công lao của bác. Cộng sản Việt Nam coi bác là một tội phạm, họ liệt bác vào hàng “văn nghệ sĩ phản động” và bị bỏ tù, vì họ cho bác là người kinh doanh và phát triển văn hóa đồi trụy. Họ cho đốt sách và tịch thu nhà sách của bác. Thực tế, nhà sách Khai Trí có hòanh tráng và đồ sộ như mọi người đều biết là do công sức làm nên từ sự cần kiệm bằng mồ hôi nước mắt của bác Nguyễn Hùng Trương ( tức ông Khai Trí)  tích lũy từ khi còn là một học sinh trường trung học Pétrus Ký. Bác Trương đã nhịn ăn những phần quà của mình hằng nhiều năm lấy tiền đầu tư vào sách báo. Và “ Kiến tha lâu đầy tổ”, cái “ tổ  Khai Trí”  đã đầy đặn dần theo năm tháng trở thành nhà sách Khai Trí vĩ đại nhất miền Nam và cho cả nước.
Việc bác Khai Trí mất để lại cho giới cầm bút và những nhà làm văn học miền Nam nói riêng và cả nước nói chung một sự thương tiếc vô bờ. Nhiều viên chức văn hóa của chế độ hiện tại hiểu chuyện về tấm gương cao cả của bác một đời chỉ vì sách cho văn hóa dân tộc đã đến chia buồn cùng tang quyến và đã ghi vào sổ tang lưu niệm. Cũng có người bày tỏ tình cảm của mình qua các diễn đàn hoặc trên các mặt báo. Với cảm nghĩ riêng tư nhiều người đã phê bình thẳng thắn chế độ hiện tại về việc  tịch thu nhà sách của bác Khai Trí với những giọng châm biếm chua chát : “Chỉ có bán sách mà bị tịch thu gia sản, đi cải tạo .30 năm rồi mà vẫn chưa chịu trả lại cho người ta. Chuyện nhỏ như vậy không làm được thì kêu xóa bỏ hận thù, hòa hợp hòa giải để làm gì.” (H4H) “ Nghe tin ông chủ Khai Trí mất. Buồn! Còn nhớ ( nếu trí óc voi còn tí ti!) Năm 1963, sau ngày “ cách mạng” 1-11-1963, nhà sách của ông bị đốt! Và sau ngày đổi đời 30-4 – 75 nhà sách của ông lại thêm một lần được …đốt! Chữ nghĩa bị đốt hai lần ! Chả trách bây giờ thiên hạ dùng chữ …..nghe tủi quá! “ Văn” với “ hóa” !! Chả trách…..văn thì ….ngọng! Hóa thì …..chỉ có “ ra …tro”! Đúng là….hát ra trò!!! Voi xin vái lạy hai chữ “ cách  mạng” dù “ cách mạng” thời xưa hay thời nay cũng đều là ……” cách cái …..mạng” !!! hm…(Alien) . “ Xin được nghiêng mình kính tiễn ông Khai Trí. Cảm ơn Sàigòn đã cho tôi  những khoảng thời đẹp . Sàigòn một quãng đời ấu thơ, lúc tôi còn được nuôi dưỡng bằng những cái hay, cái đẹp  với những quyển sách hay trong nhà sách Khai Trí” .
“ Nói đến nhà sách Khai Trí là nhắc nhớ đến một thời đi học , một thời lang thang phố thị , để gió nghịch tà áo dài, để nắng đùa lên mái tóc, thả bộ từ chợ Bến Thành đến nhà sách.
Đến nhà sách, đôi khi không để làm gì, chỉ ngó những quyển sách được sắp xếp trên kệ ngăn nắp, nhìn những bìa sách vừa khô mảng mực, được ngửi mùi giấy mới. Đã đủ vui.
Học trò để dành tiền mua sách đọc. Sách đây được kể từ những quyển truyện tình cảm nhẹ nhàng Duyên Anh, Đinh Tuyến Luyện, Từ Kế Tường, dần dần lên sách dịch, giỏi hơn chút nữa lịch sử thế giới, lịch sử Việt Nam. Đọc dần sang triết hiện sinh, triết đông triết tây, có những quyển nghe các anh nói cũng mua về làm dáng cho oai, chẳng hiểu gì cả. Phạm Công Thiện, Dương Nghiễm Mậu một ông viết trên trời một ông viết dưới đất. Cũng đọc.
Thay vì ăn bò bía, đậu đỏ bánh lọt, tiền vào nhà sách khai trí. Đến bây giờ nghĩ lại,mới biết hy sinh bò bía đậu đỏ bánh lọt cũng có cái lý của nó. Có những điều đã đọc lâu quá nên quên, nhớ nhập nhằng đọan này vào khúc nọ, nhưng ý tình đã thấm vào máu nên chẳng mất đi đâu.
Nghe nhắc đến Sàigòn , nghe nhắc đến Tài Nam , Kim Châu, Cháo cá chợ cũ , mường tượng những hình ảnh xưa cũ , màu tường vàng nhạt, cổng rêu phong bám, con đường vòm lá me xanh. Nhớ đến nụ cười xưa cũ, nụ cười lịch sự cúi chào, áo sơ mi trắng , quần tây xanh dương.
Nghe tin Sàigòn bây giờ, tiến bộ vượt bực, vũ trường nhiều hơn trường học , tuổi trẻ đốt cháy tuổi xuân, chợt nhớ Sàigòn xưa cũng xóm nhà ổ chuột, cũng nhà nghèo thiếu ăn, cũng gái giang hồ nhạt phấn, nhưng chắc một điều, nhà ổ chuột , nhà nghèo thiếu ăn, gái giang hồ nhạt phấn cũng có thể tìm vào nhà sách Khai Trí . Ngoi lên. ( Ngô Đồng)
Bác Khai Trí ra đi còn mang  theo một hòai bảo lớn , mà khi sinh tiền bác chưa thực hiện , hoặc đã thưcï hiện một phần nào. Đó là việc thực hiện một nhà sách tương đối lớn, đầy đủ ở hải ngọai cho người Việt mục đích là bảo tồn và phát triển ngôn ngữ Việt Nam. Mặt khác bác cũng mong xin lại được nhà sách đã hơn 25 năm bị nhà cầm quyền cộng sản quản lý. Khi sinh tiền bác cũng hiểu rằng việc xin lại nhà sách là một điều mò kim đáy biển, cho nên bác đã chua chát trả lời rằng: “ phải đến năm 3000 thì may ra…” với bạn bè và những ai khi hỏi đến việc xin lại nhà sách của bác. Giờ đây niềm hy vọng dù cho tới năm 3000 cũng sẽ không còn cơ hội. Bác Khai Trí, ông vua sách nhà tỉ phú xuất bản sách không còn nữa để tiếp tục đấu tranh với nhà nước cộng sản giành phần thắng tài sản của mình , khi chế độ độc tài vẫn hãy còn  bác thì đã mất.
Chúng tôi, những người hậu sinh nhưng hiểu  nỗi tâm trạng của bác . Chúng tôi thành thật cầu nguyện cho linh hồn bác được an lạc nơi cõi vĩnh hằng và hy vọng những  năm tới đây, những tài sản của người dân bị nhà nước cộng sản tịch thu trái phép sẽ được trả lại cho một cách công bằng cho người dân . Và nhà sách Khai Trí là một trong những tài sản sẽ trả lại cho người thân của bác  một cách đoàng hòang trong  hệ thống luật định mới.
                                                                                                         DUY VĂN  HÀ ĐÌNH HUY

TƯỞNG NIỆM MỘT NGƯỜI THẦY



DUY VĂN HÀ ĐÌNH HUY

Sáng Chủ Nhật 16 tháng 3 năm 2003, tại Preet Balace số 1125 Santa Clara, St. Hội Cựu Sinh Viên Sĩ  Quan Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia Bắc CaLi ( SVHVCSQGBCA) tổ chức long trọng lễ tưởng niệm cố Đại Tá Đàm Trung Mộc, vị Viện Trưởng đầu tiên của Học Viện Cảnh Sát Quốc GiaViệt Nam. (HVCSQGVN) Có hơn 500 Cựu Sinh Viên Sĩ Quan các khóa cùng gia đình tham dự. Ngoài ra có Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình, nguyên Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, Niên Trưởng Cựu Trung Tá Nguyễn Mâu, Cựu Đại Tá Đặng Văn Minh,Cựu Trung Tá Phạm Công Bạch Phó Viện Trưởng HVCSQG, Cựu Thiếu Tá Ngô Bá Phước Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn Sinh Viên Học Viện CSQG Việt Nam,Tiến Sĩ Trần An Bài, Luật sư Nguyễn Duy Tiếp, Bác sĩ Bùi Hữu Hồng, Bác sĩ Phạm Đức Vượng, Bác sĩ Nguyễn Đức Lai, Linh Mục Vũ Ngọc Đáng, Thượng Tọa Thích Trí Lãng, Ông Nguyễn Văn Lầu Hội Trưởng Ban Tri Sự Phật Giáo Hòa Hảo BCA, Ông Nguyễn Tấn Lộ, Trần Quang An Tổng Hội Trưởng Liên Hội Cảnh Sát Quốc Gia (LHCSQG), Niên Trưởng Nguyễn Hữu Trương cựu giảng sư Học Viện, Niên Trưởng Phạm Đình Lý,Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Nguyễn Văn Diệp Tổng Hội Phó Tổng Hội CSQG, Trương Ngọc Hòa, Lê Thanh Sơn, Nghiêm Xuân Phú Cương, Dương Quang Trí, Phạm Văn Quyết, Trần Hoàng Nam, Nguyễn Văn Sơn, Nguyễn Văn Giàu, Nguyễn Ngọc Tuấn, Dương Thanh Chiến, Cô Đàm Thu Phương và một số Niên Trưởng CSQG đến từ khắp nơi trên thế giới.
Sau những thủ tục nghi thức lễ tưởng niệm như : chào cờ; mặc niệm. Được sự giới thiệu của MC Tiến sĩ Trương Đại Hồ, cựu sinh viên sĩ quan Thái Văn Hòa trưởng ban tổ chức ngỏ lời cảm ta ïđến quí lãnh đạo tôn giáo, hội đoàn và đoàn thể, đồng thời nêu lên mục đích của lễ tưởng niệm."Hôm nay dưới lá quốc kỳ tượng trưng cho hồn thiêng sông núi của đất nước, dưới lá cảnh kỳ tượng trưng cho màu cờ và sắc áo của lực lượng,với phù hiệu cảnh sát quốc gia tượng trưng cho trường mẹ,chúng tôi những cựu sinh viên sĩ quan từ khắp nơi tề tựu về nơi đây để cùng nhau tưởng niệm cố đại tá Đàm Trung Mộc, người cha già của hàng ngàn đứa con Học Viện thân yêu mà người đã từng chăm sóc, dạy dỗ. Trong tinh thần "tôn sư trọng đạo","uống nước nhớ nguồn","ăn trái nhớ kẻ trồng cây". Chúng tôi tổ chức lễ tưởng niệm mục đích để nhớ ơn ông, người thầy ,người cha trong gia đình Học Viện CSQG".
TIỂU SỬ CỐ ĐẠI TÁ ĐÀM TRUNG MỘC
Cố Đại Tá Đàm Trung Mộc, sĩ quan CSQG thuần túy, nổi tiếng là vị chỉ huy thanh liêm, người là một trong hai viên chức phục vụ lâu năm nhất và có cấp bâc cảnh sát cao nhất, ngạch trật QUẬN TRƯỞNG THƯỢNG HẠNG NGOẠI HẠNG. Cố Đại Tá Đàm Trung Mộc sinh ngày 28 tháng 9 năm 1917 tại làng Hương Mạc, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Năm 1942 tốt nghiệp Cử nhân Luật khoa, trường Đại Học Luật Khoa Hà Nội, được cử làm Biện Lý. Năm 1950 được cử giữ chức vụ Chánh sở Tư Pháp Nha Cảnh Sát miền Bắc cho đến năm 1953.
Dưới thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa, cố Đại tá Đàm Trung Mộc được cử giữ nhiều chức vụ quan trọng tại Tổng Nha Cảnh Sát như : Chánh Sở Tư Pháp,Chánh Sở Tổng Nghiên Cứu, Phụ Tá Tổng Giám Đốc Cảnh Sát đặc trách khối Huấn Luyện kiêm Viện Trưởng Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia,nhờ ở trình độ học vấn uyên bác và kinh nghiệm chuyên môn. Cố Đại Tá Đàm Trung Mộc là một chuyên viên tư pháp thượng thặng,đã dày công biên soạn nhiều sách luật về hình luật tổng quát,hình luật đặc biệt và hình sự tố tụng để làm tài liệu giảng dạy cho các sinh viên sĩ quan cảnh sát và dùng làm kim chỉ nam cho các sĩ quan tư pháp cảnh lại trong khi thi hành nhiệm vụ.
Từ năm 1965,do nhìn xa thấy rộng sự lớn mạnh tất yếu của ngành CSQG nên cố Đại Tá Đàm Trung Mộc đã dồn hết tâm trí vào công trình nghiên cứu và đề nghị thành lập Học Viện CSQG, nhằm mục đích đào tạo lớp sĩ quan tre,û có trình độ học vấn cao để điều hành guồng máy CSQG. Và do đề nghị đó, Học Viện CSQG  đã được thành lập vào cuối năm 1965 và khởi đầu hoạt động với khóa 1 Thẩm Sát Viên và Biên Tập Viên năm 1966 mà người điều khiển là cố Đại Tá Đàm Trung Mộc trong chức vụ Viện Trưởng,cho đến năm 1970.
Sau khi rời Học Viện,cố Đại Tá Đàm Trung Mộc làm việc ở Bộ Nội Vụ trong chức vụ Thanh tra.
Sau biến cố 30-4-75,cố Đại Tá Đàm Trung Mộc bị giam giữ tại trại giam Chí Hòa và bị chuyển ra Bắc vào tháng 12/1976 tại trại giam Vĩnh Quang thuộc tỉnh Vĩnh Phú và sau đó Bộ Nội Vụ VC lại chuyển cố Đại TáĐàm Trung Mộc về giam giữ tại trại tù Hà Tây cho đến ngày cố Đại Tá Đàm Trung Mộc vĩnh biệt cõi trần và cõi tù,ngày 14-11-1982 với cái chết thanh thản, hưởng thọ 65 tuổi.
Những giây phút cuối cùng của cố Đại Tá Đàm Trung Mộc tại trại tù Hà Tây,xin được ghi lại lời kể của Đại Tá Bùi Hữu Đặng,Tổng Nha Tài Chánh Thanh Tra Quân Phí Quốc Phòng,người bạn tù chung buồng với cố Đại Tá Đàm Trung Mộc." Buổi tối trước khi vào buồng giam, trong khi cụ Mộc và tôi đang trò chuyện ngoài sân thì cụ Mộc bổng dưng sờ tay lên trán và nói với tôi rằng cụ không được khỏe,chắc đã bị cảm nắng. Tôi lấy dầu đưa cho cụ Mộc thoa và sau đó khoảng nữa tiếng đồng hồ chúng tôi vào phòng.Cụ Mộc leo lên giừng nằm,15 phút sau cụ Mộc leo xuống đi tiểu gặp tôi đi ngang qua và tôi đã dìu cụ vào phòng vệ sinh. Khi trở ra, cụ Mộc đi đứng có vẽ lảo đảo, tôi dìu cụ trở lại chổ nằm đồng thời bắt mạch thì thấy mạch của cụ quá yếu. Tôi hỏi cụ thấy trong người như thế nào, cụ không nói chỉ lắc đầu. Vì muốn để cụ nằm nghĩ,tôi trở lại chỗ nằm của mình,nhưng nửa giờ sau người bạn nằm cạnh cụ kêu cứu vàsau đó phòng y vụ của trại xuống đưa cụ lên trạm xá. Khi cụ rời buồng trong tình trạng hôn mê."
Cùng với lòng thương tiếc, kính trọng một vị thầy,lễ niệm hương và nghi thức đọc văn tế cũng đã được ban tổ chức đàn thiết long trọng. Bên cạnh đo ùcác cựu  sinh viên của các khóa cũng có những bài nói về công đức của cố Đại Tá Đàm Trung Mộc. Theo cựu sinh viên Trần Khánh Thiện, cố Đại Tá Đàm Trung Mộc là một vị sĩ quan thanh liêm,bình dị,hòa đồng cùng moi người, ông rất can đảm trong mọi tình huống và luôn giữ sĩ khí của một kẽ sĩ.Cựu sinh viên Nguyễn Thanh Giàu thì cho rằng khóa 3 của ông có những đặc biệt gắn bó với cố Đại Tá Đàm Trung Mộc vì là tình thầy trò trong chiến cuộc Mậu Thân, vừa là tình thầy trò trong trại tù cho nên ông đã học từ thầy Đàm Trung Mộc từ Học Viện cho tới trại tù. Ở Học Viện thầy Đàm Trung Mộc cho tôi những kinh nghiệm sống và kiến thức nghề nghiệp về tư cách của một người sĩ quan.Ở trong tù thầy Đàm Trung Mộc cho tôi học thế nào là"uy vũ bất năng khuất" thế nào là tư cách của một người sĩ quan khi ở trạng thái cùng biến. Cho nên trước sự ra đi cố Đại Tá Đàm Trung Mộc đã để lại vết hằn trong tâm tư của ông. Ngày nay làm lễ tưởng niệm cho thầy Đàm Trung Mộc ,không phải là để cho chúng ta thắp nén hương hoặc là để nói lên những lời thương tiếc mà chúng ta phải thực hiện những lời mà thầy Đàm Trung Mộc đã dạy chúng ta. Đó là ba khẩu hiệu: Đối với tổ quốc,đối với danh dự và trách nhiệm của một người sĩ quan CSQG đối với hiện tình đất nước,có như vậy ngày lễ tưởng niệm của thày mới có gía trị.
Cựu nữ sinh viên sĩ quan khóa 1 Đào Thị Điệp đã bày tỏ nổi thương tiếc cố Đại Tá Đàm Trung Mộc mà theo chị thì cố Đại Tá Mộc như là người cha tinh thần của khóa 1.
"Cố Viện Trưởng vất vả vô cùng vì mới lần đầu tiên, khóa 1 đã sinh đôi cả nam lẫn nữ,riêng nữ chúng tôi có tất cả 47 người, ôi thôi thì đủ chuyện nào nơi  ăn, chốn ở, di chuyển,việc học chung quân sự với các nam sinh viên v. v. đã làm cho cha già nhiều phen nhức óc. Nhưng chúng tôi có để ý gì để chia xẻ những khó khăn với người,bây giờ nghĩ lại chỉ còn ân hận và cầu mong cha thứ lỗi cho những đứa con còn non dại ngày nào. Nhân hôm nay, ngày giỗ người cha tinh thần của chúng tôi. Một lần nữa chúng tôi xin đa tạ quí vị đã cho chúng tôi nói lên tâm sự của những người con đã mất đi người cha kính mến, cố Đại Tá Đàm Trung Mộc." 
Tỏ hơn lòng thương tiếc đối với Cố Đại Tá Đàm Trung Mộc, chị cũng có một bài thơ thương tiếc về người.
KHÓC CHA NGÀY GIỖ.
Ngày giỗ cha con không khóc được
Tiếng nấc thầm đã nghẹn trong tim
Vì sao con mãi đi tìm
Tình cha như thể rừng sim trên đồi

Giỗ cha già nhưng con không nghĩ
Cha đã đi về với Tổ-Tiên
Cha con hiển hiện dương gian
Còn lo chăn dắt đàn CÒ cút côi

Ngày giỗ cha buồn hiu buồn hắt
Mới ngày nào cha bắt tay ta
Sao nay cha đã lìa xa
Đàn con côi cút bôn ba khắp trời

Cha linh thiêng thương đàn con dại
Hãy phò trì cho chúng gặp may
Đứa nào đã ở ngoài này
Cha giúp cho chúng có ngay việc làm
Còn những đứa chưa qua được bến
Tìm tự do cha cũng chỉ bày
Ở lại không chóng thì chày
Không nghèo,cũng đói ở ngay quê mình

Cha đã biết ngục hình tù tội
Vóc gầy còm chịu được bao lâu
Mặc cho DUNG,PHƯƠNG khẩn cầu
Mặc cho vợ dại dập đầu lạy van

Chí đã quyết Trường sơn không chuyển
Hãy đi đi và để mặc ta
Đấy là tiết tháo nhà nho
Không đi,chẳng muốn học trò rẽ khinh,

Nụ cười khinh mạng cha nào ngại
Dù đoạn đầu đài có dựng lên
YÊN BÁI- THÁI HỌC nêu tên
Nay cha nào sợ xích xiềng hỡi con.

Đi là có tự do,no ấm
Cha chẵng màng,bia đá chẵng ghi
Chỉ còn bia miệng thi phi
Nên cha chọn lối TƯỚNG đi theo thành

Cha đã quyết hy sinh vì nước
Quản thân già vị Quốc vong thân
Thà rằng cha cịu chết vinh
Còn hơn sống nhục,cực hình xá chi

Vận nước nổi trôi thân chẳng kể 
Hồng trần giũ sạch chẳng cần gì
Bây giờ cha đã ra đi
Chúng con thương tiếc lấy gì báo ơn

Chỉ còn biết thắp hương ngày giỗ
Mong cha về phò hộ chúng con
Xin cho mọi sự vuông tròn
Dẫn đàn con lạc bốn phương quay về 

Nhìn đất tổ cha thề chẳng bỏ
Dang hai tay ôm giữ Quê Hương
Nhìn đàn con dại tứ phương
Mỉm cười cha mãi dõi đường con đi

Con sẽ về cùng cha dựng lại
Quê hương mình ai lại chẳng thương
Có cha cầm giữ biên cương
Chúng con nhất quyết theo gương cha già

Và cũng chính tay cha rộng mở
Đón chung con ở cửa NAM QUAN
Anh em rồi lại họp đoàn
Một nhà Dân Việt vinh quang ,Thái Bình.
Trong niềm xúc động luyến tiếc  một người thày,một người anh,niên trưởng Trần Quang An,Tổng Hội Trưởng CSQG hải ngoại đã nói:" Hôm nay cụ Đàm  Trung Mộc không còn nữa,mái trường Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia cũng không còn,nhưng mà tinh thần Đàm Trung Mộc vẫn còn và tinh thần Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia vẫn bất diệt trong lòng tất cả anh chị em chúng ta…….Ông nói rằng Đại Tá Đàm Trung Mộc là sĩ quan cao cấp trong ngành CSQGViệt Nam mà khi quá cố đã có những buổi tưởng niệm long trọng  như vầy,là vì ông là người có tài có công đào tạo và xây dựng lớp cán bộ ưu tú cho LLCSQG.Vàcũng vì công lao đó cộng với tinh thần "Tôn sư trọng đạo" nên mỗi năm đều được tưởng nhớ đến. Oâng chân thành bày tỏ lòng kính phục đối với cố Đại Tá Đàm Trung Mộc"
Trong hồi tưởng chân tình, niên trưởng Phạm Công Bạch, cựu phó Viện Trưởng Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia nói rằng ông đối với Đại Tá Đàm Trung Mộc không có xa lạ gì. Cụ Đàm Trung Mộc là đàn anh của ông, và khi mới vào ngành CSQG người đầu tiên ông trình diện là cụ Đàm Trung Mộc, sau khi trình diện Tổng Giám Đốc CSQG.Trên quan niệm canh tân ngành CSQG vốn đã có tai tiếng và để thực hiện ý niệm của cụ Mộc làtrẻ trung hóa lực lượng CSQG, nên ông và một số anh em (ngạch quận trưởng đồng hóa) đã cùng cụ Mộc quyết phát triển Học Viện CSQG,nhưngvì tình hình đất nước,tình hình chính trị nên người CSQG thuần túy khó có thể thực hiện được những hoài bảo của ngành và những người cảnh sát thuần túy thực thụ thì nhiều khi không được sử dụng một cách chính đáng và đã phải nhường lại cho cái sự xâm lấn của một số quân đội biệt phái sang bên ngành ( ông xin lỗi ở đây không phải là sự phân cách,mà đó là một thực trạng) và nắm giữ luôn cả ngành cảnh sát. Và theo ông Cụ Mộc vì giữ gìn tiết tháo của kẻ sĩ , không phục tòng những người mới sang cho nên đã phải nhường chức Viện Trưởng Học Viện CSQG cho người khác,nhưng những người khác không ai xa lạ,chính là đàn em của người.Trong lúc làm nhiệm vụ với vai trò phó Viện Trưởng ông luôn thường thỉnh ý kiến của cụ Mộc mặc dù cụ Mộc, lúc ấy đã không còn là Viện Trưởng Học Viện nữa.Và theo ông thì Học Viện đã không để cho ai nói một lời nào phê bình rằng Học Viện kém khả năng hay là không đủ chỉ tiêu,niềm hãnh diện này là nhờ vào đường lối cố Đại Tá Mộc đã vạch ra và ông cùng các bạn ông đã thực hiện.
 Ông nghiêng mình kính cẩn trước hương linh của Đại Tá Mộc và cầu mong tinh thần "liên minh" của Đại Tá Mộc còn tồn tại mãi trong tâm hồn của mỗi người CSQGViệt Nam.
Cô Đàm Thu Phương ái nữ của cố Đại Tá Đàm Trung Mộc đến từ Canada thay mặt cho gia đình cám ơn ban tổ chức và các tôn giáo, hội đoàn ,đoàn thể . Nhân tiện cô xin được tâm sự với những cựu sinh viên sĩ quan vốn là học trò của ba cô từ trước. Cô nói:"Em thay mặt anh em của em trong gia đình cám ơn các cựu sinh viên sĩ quan Học Viện CSQG trước hết và sau,được nói lên những lời tâm tình cùng những người học trò mà lúc còn sinh tiền ba của em rất quí mến và đặt nhiều kỳ vọng. Đối với ba của em, những cựu sinh viên là những sĩ quan ưu tú, là những vị lãnh đạo tương lai của ngành CSQG nói riêng và của quốc gia nói chung.Em rất cảm kích với những cảm tình mà các cựu sinh viên sĩ quan hôm nay đã dành cho ba em,có lẽ ba của em không bao giờ nghĩ đến là thời gian ngắn ngũi huấn luyện tại HVCSQG đã để lại bao nhiêu kỷ niệm sâu đậm trong lòng những người học trò cũ như vậy.Hồi tưởng lại cách đây mấy năm,khi em có dịp sang dự lễ tưởng niệm đầu tiên dành cho ba em do các anh cựu sinh viên sĩ quan khóa 3 tổ chức tại Santa Ana, em vô tình được nghe một mẫu đối thoại hai chú đồng nghiệp với ba em nói chuyện về ông. Một trong hai chú có nói một câu như thế này:" Ông Mộc là một vị sĩ quan ưu tú,ông không  luôn luôn được trọng dụng bởi cấp chỉ huy,nhưng bù vào đó ông đã được đa số các nhân viên rất kính nể . Đây là một câu nói rất đơn giản, nhưng nó vô cùng sâu sắc và rất thấm thía, nó bao gồm tóm tắt lại những dữ kiện xãy ra liên quan đến quá trình sự nghiệp của ba em và ngoài ra nó cũng thể hiện phần cá tính của con người ông,của một người cha mà chúng em rất hãnh diện làm con và cá tính của một người thày mà các anh các chị đã từng nhận thức được từ lâu và ngày hôm nay vinh danh tưởng niệm.Vào biến cố 30-4-75,ông quyết định ở lạivà mãi đến cuối 1980,gia đình mới nhận được một lá thư do chính tay ông viết từ trại Hà Sơn Bình,trong những lá thư đó ông đã khẳng định rất rõ ràng: Ba không có tội gì với tổ quốc,ba chưa hề làm một điều gì hổ thẹn với lương tâm của mình và ông quan niệm rằng thà chết vinh hơn sống nhục. Một đại văn hào của Việt Nam vào thế kỷ thứ 19 là cụ Nguyễn Công trứ có để lại hai câu thơ cho hậu thế như sau:" Nhân sinh tự cổ thùy vôtử,Lưu thủ đan tâmchiếu hãn thanh"(người ta tự cổ ai chẳng chết,lưu giữ lòng son trong sử xanh). Bởi vậy ngày lễ tưởng niệm tại SanJose ngày hôm nay mà các anh, các chị dành cho ba em là một phần thưởng danh dự quí giá, là một món quà tinh thần lớn lao, một niềm an ủi vô biên cho linh hồn của ba em.Bởi vì không ai có thể phán xét một cách chính xác và công bằng về một người thầy, về một vị giáo sư bằng chính những học trò cũ của ông. Em tin chắc rằng từ thế giới bên kia ba em đang mãn nguyện nhìn xuống đây mỉm cười và nụ cười này sẽ mãi mãi nở trên môi của ba em. Thành thật cám ơn"
Đại diện ban tổ chức cựu sinh viên sĩ quan Nguyễn Ngọc Thụy tri ân quí vị lãnh đạo các tôn giáo, quan khách, các niên trưởng các chiến hữu CSQG đã có mặt trong lễ tưởng niệm.

BAN CHẤP HÀNH HỘI CỰU SINH VIÊN SĨ QUAN HỌC VIỆN CSQG

Nhân dịp lễ tưởng niệm Cố Đại Tá Đàm Trung Mộc Viện Trưởng HVCSQG. Hội Aùi Hữu Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Học Viện CSQG đã giới thiệu thành phần Ban Chấp hành niên khóa 2003.
Hội Trưởng Cựu SVSQ: Thái Văn Hòa. Hội Phó Nội Vụ: Đinh Văn Hạp. Hội Phó Ngoại Vụ:  Nguyễn Ngọc Thụy. Tổng Thư Ký:  Trần Bửu Giao. Phó Tổng Thư Ký: Trần Đức Túc. Thủ Quỹ: Nguyễn Văn Cư. Phụ Tá Đặc Trách Kế Hoạch : Trương Đại Hồ. Phụ Tá Đặc Trách Thông Tin Báo Chí: Duy Văn. Phụ Tá Đặc Trách Xã Hội: Hoàng Ngọc Ký. Uûy Viên Thông Tin Báo Chí: Võ Đình Giá. Uûy Viên Kế Hoạch: Nguyễn Hữu Độ. Uûy Viên Xã Hội: Nguyễn Thanh Quang. Uûy Viên Xã Hội: Nguyễn Hiếu.
Được biết Hội Aùi Hữu CSVSQHVCSQG thành lập ngày 6 tháng 10 năm 2002 tại San Jose, do thể theo ý nguyện của đại đa số CSVSQHVCSQG. Việc thành lập hội nhằm  mục đích duy nhất là nối tiếp lại tình thân giữa những cựu SVSQCSQG có chung trường Mẹ để cùng ôn lại những kỷ niệm vui buồn của những ngày tháng ở Học Viện CSQG và cùng chia sẽ buồn vui trong những tháng năm dài còn lại khi tuổi đời của các cựu SVSQ mỗi ngày mỗi cao, cần sự tương thân tương trợ.
Hội Cựu SVSQHVCSQG /BCA là một tổ chức độc lập và tự quản vì sự hình thành và hoạt động của Hội nhằm mục đích ái hữu. Ngoài hoạt động ái hữu trong phạm vi gia đình Học Viện ở BCA, Hội sẵn sàng hổ trợ và chia sẻ buồn vui với các đồng môn và gia đình HVCSQG ở nơi khác, những đồng môn Học Viện CSQG kém phần may mắn còn kẹt ở quê nhà và các chiến hữu CSQG cùng gia đình.
Các cựu SVSQCSQG xuất thân từ Học Viện hiện sinh hoạt trong Hội, tự xem mình là một thành phần trong khối đại gia đình CSQG và có chung niềm tự hào về màu cờ sắc áo. Hội cương quyết không dẫm chân trên các hoạt động cố hữu của các Hội CSQG địa phương nhằm tránh những ngộ nhận sứt mẻ tình đoàn kết.
Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Học Viện CSQG luôn hổ trợ Hội CSQG địa phương và Tổng Hội CSQG Hải Ngoại trong nổ lực xây dựng tập thể CSQG hải ngoại mỗi ngày một vững mạnh, có cùng chung tiếng nói, lập trường chống cộng. Trong các hoạt động đấu tranh cho dân chủ nhân quyền tại Việt Nam và chống mọi hoạt động quấy phá, xâm nhập và tuyên truyền của cộng sản tại hải ngoại. Hội Cựu SVSQHVCSQG/BCA không hoạt động đơn phương mà sẵn sàng hòa mình vào tập thể CSQG và Hội CSQG địa phương.
Hội Cựu SVSQHVCSQG/BCA chủ trương đoàn kết nội bộ LLCSQG và quan tâm đến việc phát huy tinh thần dấn thân của giới trẻ, nhất là thành phần con cháu CSQG. Hội tương kính các Hội Đoàn có tinh thần quốc gia và lập trường chống cộng.
Địa chỉ liên lạc Hội: P.O.BOX 362057.MILPITAS, CA 95036.
Website của Tổng Hội CSQG Hải Ngoại ( www.canhsatquocgia.com).Website của một nhóm cựu SVSQ có thiện chí  và điều kiện thực hiện ( www.hocviencsqg.com).

DUY VĂN HÀ ĐÌNH HUY

AI CŨNG PHẢI HỌC LÀM NGƯỜI

Liên Hải dịch 

  Đại sư Tinh Vân có một người đệ tử, sau khi tốt nghiệp đại học, liền học Thạc sĩ, rồi lại học Tiến sĩ. Sau nhiều năm, cuối cùng cũng đã hoàn thành luận án tiến sĩ nên vô cùng mừng vui. 

Một hôm người đồ đệ này trở về, thưa với ngài Tinh Vân: “Bạch Sư Phụ nay con đã có học vị Tiến sĩ rồi, sau này con phải học những gì nữa?” Ngài Tinh Vân bảo: “Học làm người”, học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được. 

Ngài Tinh Vân cho rằng, bất luận là sĩ nông công thương, người ở tầng lớp nào có học tập là có tiến bộ, nay cùng chia sẻ với mọi người về những điều cần phải học. 

Thứ nhất, “học nhận lỗi”. Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng, thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn. Đối tượng mà mình nhận lỗi có thể là cha mẹ, bạn bè, mọi người trong xã hội, thậm chí nhận lỗi với con cái hay là người không tốt đối với mình, nhận lỗi như vậy bản thân chẳng mất mát gì, ngược lại còn thể hiện được sự độ lượng của bản thân. Học nhận lỗi là một điều rất tốt, là sự tu tập lớn. 

Thứ hai “học nhu hòa”. Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta lại mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên, cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại dài lâu được, chứ cứng làm chi cho chịu thiệt thòi. Tâm nhu hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu tập. Người ta thường hình dung những người cố chấp, thì tấm lòng của họ, tính cách của họ rất lạnh, rất cứng y như một miếng sắt vậy. Nếu chúng ta có thể điều hòa hơi thở, điều hòa thân tâm, dần dần điều phục tâm như ngựa hoang, như vượn chuyền cành này khiến cho nó nhu hòa mềm mại, thì cuộc sống mới vui tươi hơn, mới lâu dài được. 

Thứ ba “học nhẫn nhục”. Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên biển lặng, lùi một bước thì biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không. Các vị muốn sống, muốn sinh tồn, muốn sinh mạng này thì cần phải biết nhẫn, có thể hiểu rõ những đúng sai, thiện ác, tốt xấu của thế gian, thậm chí chấp nhận nó. 

Thứ tư “học thấu hiểu”. Thiếu thấu hiểu lẫn nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm. Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được? 

Thứ năm, “học buông bỏ”. Cuộc đời như một chiếc va li, lúc cần dùng thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống lại không đặt xuống, cũng như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, nhận lỗi, tôn trọng, bao dung, mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết buông bỏ thì mới có thể tự tại được. 

Thứ sáu “học cảm động”. Nhìn thấy ưu điểm của người khác chúng ta nên hoan hỷ, nhìn thấy điều không may của người khác nên cảm động. Cảm động là tâm thương yêu, tâm bồ tát, tâm bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi, có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động. 

Thứ bảy “học sinh tồn”. Để sinh tồn chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh, thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu để với người thân. 

Chúc bạn bè thân hữu cùng cố gắng! 

 
Liên Hải dịch

VU LAN MÙA BÁO HIẾU

DUY VĂN HÀ ĐÌNH HUY
Đáp thư mời của Đạo Tràng Pháp Hoa Chùa Thích Ca Đa Bảo, đông đảo đồng hương phật tử San Jose và các vùng lân cận, chủ nhật 18-8-2002 đã đến tại hội trường American GI Forum, số 765 Story Sanjose dự Đại Lễ Vu Lan .
 " Cây có cội nước có nguồn", phận làm con ai trong chúng ta cũng mang nặng ân nghĩa sanh thành, dưỡng dục của cha mẹ. Mùa Vu Lan về là dịp nhắc nhở những người con hiếu hạnh nhớ đến công ơn sâu dày của cha mẹ hiện tiền cũng như cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp đã qua. Thể theo lời Phật dạy, noi gương hiếu hạnh của Đức Mục Kiền Liên cứu mẹ thoát khỏi chốn u đồ tối tăm…, dâng lời cầu nguyện cho đa sanh phụ mẫu, chư anh linh chiến sĩ nhờ công đức này được sanh về cảnh giới chư Phật. Đồng thời cầu nguyện cho quê hương cùng muôn loài chúng sanh trong pháp giới trọn niềm an lạc".  Đoạn lời trên trong thư mời của Thượng Tọa Thích Trí Lãng Viện chủ chùa Thích Ca Đa Bảo đã gián tiếp nói lên lý do vì sao bổn chùa tổ chức long trọng ngày Đại Lễ Vu Lan.
Sau những nghi thức :chào quốc kỳ và quốc ca hai nước Việt Mỹ, múa lân cung nghinh chư tôn quang lâm và giới thiệu quan khách. Thượng Tọa Viện Chủ đã đọc diễn văn khai mạc buổi lễ và thông điệp Vu Lan Phật Lịch 2546 của Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền  Quang .
THÔNG ĐIỆP VU LAN 2546.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.
Mùa Báo hiếu Vu Lan lại về, trang nghiêm trong lễ nghi, trầm hùng trong tâm tư toàn thể chư Tăng, Ni và Phật tử ở trong hay ngoài nước. Gặp thời nhiễu nhương, đất nước chưa yên ổn, chánh pháp bị hủy báng, mới thấy rằng các ngày đại lễ Phật Giáo trở thành thủ đô tâm linh, nơi qui tập những khối lực tâm thành và chí nguyện Bồ Tát của hằng triệu Phật Giáo đồ.
Thương thay thập loại chúng sinh
Phách đơn hồn chiếc lênh đênh quê người 
Đạo vô thượng thần thông quảng đại
Chuyển pháp luân tam giới thập phương
Mùa Báo Hiếu, ngày xá tội vong nhân, siêu độ hương linh cửu huyền thất tổ… qua bao đời các ý niệm tương duyên tương sinh ấy hiển lộ thành nguyên lý sống, thành tác phong hằng nhật của người Phật tử đối với sự trả hiếu, và vun bồi nền móng gia đình cho quốc thổ và cho quốc thể Việt Nam uy nghiêm tồn tại. Tiến trình trả hiếu khởi đầu với sự nhận chân thực tại, như ngài Mục Liên nhìn và thấy hình ảnh mẹï thống khổ nơi tận cùng địa ngục. Nhưng làm sao để cứu mẹ? Phải phát bồ đề tâm cứu khổ, cứu mẹ ra khỏi ngục A Tỳ. Phát bồ đề tâm chưa đủ, vì bước phát tâm này mới là nguyện lực cá nhân. Nguyện lực cá nhân cần có thêm sự trợ thủ và chú nguyện của tập thể chư Tăng, một tập thể của trí tuệ Bát Nhã, thì mới viên thành chí nguyện. Đây là ba bước của tiến trình trả hiếu. Suy ra mọi sự cứu khổ trên trần thế đều phải hội đủ quá trình ba bước ấy: Một là nhận chân thực tại; Hai là  nguyện ước trừ nguy; Ba là, lực lượng từ bi cứu khổ . Một thôi chưa lay đổ được nghịch cảnh, mà phải hòa hội ba lộ trình thể hiện nhất thiết chủng trí thì mới chuyển hóa được thời cơ.
   Chữ hiếu trong đạo Phật không chỉ bao hàm cha mẹ trong đời này, mà xuyên suốt tới Cửu Huyền Thất Tổ, nghĩa là mẹ cha nhiều đời trong hằng hà sa số kiếp. Kinh sách thường viết " chúng sanh trong vô lượng kiếp đều là cha mẹ, thân thuộc lẫn nhau" . Như vậy thì ngoài sự trả hiếu cho cha mẹ hiện tiền , còn thêm sự trả hiếu cho cha mẹ nghìn muôn kiếp trước. Hiếu hạnh của đạo Phật là lòng Đại Từ tiến hành không ngưng nghỉ. Trả hiếu cho cha mẹ đồng nghĩa với thương cứu chúng sanh. Vì chúng sanh chẳng ai khác hơn là cha mẹ nghìn muôn kiếp trước của mình vừa được thác sinh.
 Cho nên gặp ai khổ lụy, bần hàn ; gặp ai sa cơ , thất thế; gặp ai lâm cảnh ngục tù, áp bức, gặp ai vô minh , phiền não, gặp ai tham luyến , sân si…người Phật Tử không thể nhắm mắt làm ngơ, mà phải đem tâm Đại Bi bảo bọc hết thảy chúng sinh, đem tâm Đại Từ làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh, đem tâm Vô Ngại dẹp bỏ mọi chướng ngại cho kẻ khác. Người Phật Tử tùy hỷ với pháp lành, tùy thuận với quần sanh để giải thoát nhân loại trầm luân khổ ách. 
Mùa Báo Hiếu Xá tội vong nhân, Siêu độ hương linh Cửu Huyền Thất Tổ…vào dịp chư tăng xuất hạ ngày Tự Tứ, biểu hiệu hoàn mãn Hiếu hạnh mà cũng là lòng Đại Từ của Phật Giáo, vừa cho những vong linh khuất bóng, vừa cho chúng sinh hiện tiền. Như thế, người Phật tử Việt Nam có thể hãnh diện làm kẻ thừa kế nền giáo lý cao cả của Đức Phật trong công cuộc tôn trọng và bảo vệ Linh quyền và Nhân quyền. ( Nhân quyền cho người sống và Linh quyền cho người chết.)
Năm trước, tôi đã cất lời kêu gọi hàng cư sĩ NamNữ Phật Tử mở ra truyền thống mới về lễ nghi Hiếu Hạnh. Nghĩa là sau khi làm lễ Vu Lan ở chùa, về nhà nên thiết lễ cầu nguyện tại gia cho cha mẹ hiện tiền cũng như tổ tiên quá khứ. Làm sao cho từ nay, nghi lễ này trở thành phong tục mới, tập quán mới, nhằm giáo dục con cháu về chữ Hiếu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Đây là cái Tết Hiếu Thuận, sau Tết Nguyên Đán và trước Tết Trung Thu của các cháu thiếu nhi hàng năm.
   Tôi cũng đã tha thiết, xin lặp lại, kêu gọi chư Tăng Ni, hàng Trưởng Tử của Như Lai, đã cát ái từ thân, thì sự truyền thừa của chánh pháp, cũng như bảo vệ quê hương nơi mình hành đạo, chính là sự nối dõi của đạo Hiếu đối với Đức Thế Tôn. Kính xin chư Liệt Vị và Tôn Túc hãy tâm niệm cho điều ấy, mà xích lại gần nhau hơn bao giờ, để thực hành các chí nguyện cao cả của người Tăng sĩ, mà nối bước đi đều hướng tới những phương trời cao rộng.
   Được như vậy, cuộc khủng hoảng văn hóa, xã hội, chính trị và đạo lý trầm trọng ở chổ nước ta mới có cơ chấm dứt, nền văn hiến Việt mới phục hồi và Phật Đạo tăng huy.
NAM MÔ ĐẠI HIẾU MỤC KIỀN LIÊN BỒ TÁT.
Quảng Ngãi, mùa Vu Lan , Phật lịch
Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống
Tỳ Kheo THÍCH HUYỀN QUANG
 Sự gặp nhau của chúng sinh đó là một duyên cơ đã định trước theo thuyết nhà Phật gọi là " Ngộ". Đó là lời mở đầu bài thuyết giảng của Thượng Tọa Thích Minh Dung, trước khi Thầy đi sang một vấn đề khác cốt lõi của bài giảng. Đó là "Vu Lan Báo Hiếu".
Theo Thượng Tọa khi nói đến Vu Lan là con nhà Phật nghĩ ngay đến việc báo hiếu, nghĩa là sự đền đáp công lao dưỡng dục, sanh thành của con cái đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Không những cha mẹ hiện tiền mà còn có cha mẹ đã quá sanh nữa. Theo một cách nhìn và dùng từ chuẩn xác, được Thầy gọi nôm na là " biết ơn".  " Biết ơn rất quan trọng, nếu chúng ta không biết ơn thì làm sao có Từ Bi và Trí Tuệ. Nếu một người sinh sống ở trên đời mà không biết ơn ai cả là một người không có Trí Tuệ và cũng không có Từ Bi. Vì Từ Bi và Trí Tuệ là hai trụ cột quan trọng thể cách nhân sinh trong quan niệm của nhà Phật. Biết ơn còn là một văn hóa, như người không biết ơn ai cả thì được xem như là người kém văn hóa." 
 Cũng theo Thượng Tọa Thích Minh Dung, việc trả hiếu hay nói khác là " biết ơn" cũng có rất nhiều dạng và tùy theo phong tục của từng nơi, của từng sắc tộc trên thế giới. Có những sắc dân không chịu ảnh hưởng của thuyết Phật Giáo thì họ có quan niệm trả hiếu theo tục lệ của họ. Nhưng khi đã là con nhà Phật thì ai ai cũng xem việc Đức Mục Kiền Liên là một người con Đại Hiếu. Ngài Mục Kiền Liên đã thể hiện hai vấn đề cốt lõi của con nhà Phật là " Từ Bi" và " Trí Tuệ".  Ngài đã ngộ giác, Ngài đã cứu được mẹ ra khỏi chốn A Tỳ. 
   Trong nghi thức cầu nguyện Vu Lan Bồn và dâng hoa cúng dường Vu Lan, các  Chư Tôn Thượng Tọa, Đại Đức các Tăng Ni và các Phật Tử  đã  Đảnh Lễ Tam Bảo, Tán Phật Vương đọc Chú Đại Bi , Sám Vu Lan , Tứ Hoằng Thệ Nguyện và Tam Tự Qui. Suốt hơn nửa tiếng đồng hồ nghiêm chỉnh cầu nguyện trước bàn Phật đã tạo cho tuyệt đại đa số Phật tử đã hưng phấn tâm linh.  Cụ An 67 tuổi nói: "Tôi thường nhờ con cháu chở đến chùa để tôi nghe kinh kệ, gần gũi các Ni Sư tôi cảm thấy như có điều gì thánh thiện, tôi cần có những thánh thiện đó" . Còn Cụ Tăng 69 tuổi thì cho biết: " Đi chùa và sinh hoạt lễ tự ở chùa, tôi cảm thấy thoải mái hơn là đi sinh hoạt cộng đồng. Tôi đã đến Mỹ  mười tám năm, tôi tham gia rất nhiều trong những sinh hoạt cộng đồng từ nhiều nơi, nhưng tâm hồn tôi như chưa có " lắng đọng" đôi khi còn không có được sự  "êm ả" nào! Nên kể từ năm 1999, tôi thường đến những nơi sinh hoạt có tính cách tâm linh như thế này". 
   Lễ Dâng Quà Cúng Dường Chư Tôn Đức và Bông Hồng Cài Aùo đã được diễn ra theo sau nghi thức cầu nguyện Vu Lan Bồn.  Các Thanh Thiếu Niên Phật Tử của Chùa Thích Ca Đa Bảo đã lần lượt đến gắn từng chiếc hoa hồng trên ngực áo của các Chư Tôn với quà cúng dường.
 Nói về ý nghĩa bông hồng cài áo, Chùa Thích Ca Đa Bảo đã nhắc nhỡ người Phật Tử Việt Nam, người con Phật hãy nhớ về cội nguồn sau bao tháng ngày dong ruỗi tha độ. Không nên quên công lao sanh thành dưỡng dục của cha mẹ.
 Đẹp thay, cho những ai còn mẹ được cài những đóa hoa hồng thắm tươi trên áo, và cũng chia sẽ với những ai đã không còn  có những diễm phúc khi cha mẹ không còn ở trên trần đời, với một bông hoa trắng, một biểu hiện của sự chia xa vĩnh viễn trong lòng của những đứa con không còn mẹ. Nhưng mùa Vu Lan Báo hiếu không chỉ riêng cho những người còn cha mẹï mà người không còn cha mẹ cũng có thể nghĩ đến và kính lễ cha mẹ, tổ tiên, ông bà.
Bài hát "Bông Hồng Cài Aùo" và "Tâm Sự Người Cài Hoa Trắng" được các em trong ca đoàn Thích Ca Đa Bảo trình diễn đã đi sâu vào lòng người Phật tử đến tham dự. 
Lúc 5 giờ 30 phút các Phật tử, các Chư  Tôn chùa Thích Ca Đa Bảo thọ trai dường và thưởng thức chương trình văn nghệ mừng Vu Lan đã được diễn ra với nhiều tiết mục đặc sắc . Hợp ca mừng Vu Lan, Trích đoạn cải lương" Mục Liên Tìm Mẹ", Tân Cổ Giao Duyên " Con Gái Của Mẹ" và đơn ca cổ nhạc " Bông Hồng Cài Aùo" v. v.do các nghệ sĩ vốn là con nhà Phật biểu diễn .
Buỗi Đại Lễ Vu Lan chấm dứt vào lúc 6 giờ 10 phút cùng ngày sau, lời cảm tạ của Ban Tổ Chức và Múa Lân dưa tiễn các Chư Tôn Đức cùng với đồng hương Phật tử.
   Trong cùng ngày, tại Pháp Duyên Tịnh Xá số 766  Second, St cũng đã tổ chức Đại Lễ Vu Lan Bồn với mục đích : cầu nguyện cửu huyền thất tổ , đồng bào tử nạn, chiến sĩ trận vong được siêu thoát, đồng thời cầu nguyện quốc thái dân an, giải trừ quốc nạn và pháp nạn tại quê nhà . Được đông đảo chính quyền địa phương và  đồng đạo Phật tử nhiều nơi đến tham dự . Được biết mùa Vu Lan năm nay có rất nhiều Phật tử qui y thí phát tại Pháp Duyên Tịnh Xá và  đặc biệt cũng tại Pháp Duyên Tịnh Xá  Lễ Dâng Y Và Tứ Vật Dụng được tổ chức theo nghi lễ cổ truyền. Một tiết mục cũng xem như là đặc biệt mà cũng chỉ có tại Pháp Duyên Tịnh Xá trong mùa Vu Lan Phật Lịch  2546 năm nay, đó là  chương trình văn nghệ cúng dường Vu Lan, do gia đình Phật tử Thiện Tâm vàø các Nghệ sĩ phụ trách. Với những bài hát mang ý nghĩa báo hiếu mẹ cha, ông bà, tổ tiên đã như nhắc nhở người tham dự là những con nhà Phật đừng nên xao lãng bổ phận làm con . Hai MC Trần Ngọc và Kim Oanh, rất tài tình trong việc điều hợp chương trình đã không bỏ lỡ những cơ hội nào để cho chương trình trở nên buồn tẻ nên đã tạo được tâm đắc  từ người xem. Buổi Đại Lễ Vu Lan Bồn tại Pháp Duyên Tịnh Xá coi như là một buổi lễ có giá trị nhất định trong mùa Vu Lan năm nay tại hải ngoại.

DUY VĂN HÀ ĐÌNH HUY


                                                                                         

LỜI BẠT : KINH VÔ THƯỜNG

HÀ ĐÌNH HUY

Nhà thơ Võ Thạnh Văn  nhã ý nhờ tôi viết LỜI BẠT  cho tập sách của ông. Cầm tập sách trên tay tôi tự nhũ: làm sao mình có thể viết NHẬN ĐỊNH nổi cho một tác phẩm loại kinh điển  như thế này? Bởi tập sách “ KINH VÔ THƯỜNG” của tác giả Võ Thành Văn gồm có 2 quyển THƯỢNG và HẠ và trong hai quyển này chứa khoảng 10 tập thơ mang tên Cát Bụi theo số thứ tự  từ 1 đến 10. Mỗi tập thơ  Cát Bụi như vậy, chứa một ngàn câu thơ theo thể LỤC BÁT. Như thế toàn  bộ tập sách KINH VÔ THƯỜNG chứa 10 ngàn  câu . Nếu tính theo chữ gồm có 70 chục ngàn chữ . Tôi nói với tác giả, việc viết LỜI BẠT cho một tác phẩm lớn như thế này và nhất là thuộc  loại sách kinh điển, e rằng tôi không thể đáp ứng yêu cầu  mong muốn của tác giả, vì công việc này có tính chọn lựa thường dành riêng cho vị thức giả hoặc các bậc cao thâm . Nhưng Võ Thành Văn không cho ý kiến của tôi là đúng. Ông bảo tôi có thể viết nhận định được, lại nữa chỉ viết LỜI BẠT cho một tập thơ Cát Bụi trong 10 tập mà thôi. Tôi biết không thể thối thóat trước tấm chân thành của bạn hữu cũng là thi hữu nên tôi nhận lời. Tôi chọn tập thơ Cát Bụi 2 để làm chủ đề cho LỜI BẠT theo yêu cầu.
Đọc qua tập thơ Cát Bụi 2 từ câu 251 đến câu 500, trên phương diện hình thức chúng ta thấy : tác giả Võ  Thạnh Văn không những là một nhà thơ can đảm lại  còn tài tình nữa, vì dám chonï thể lọai LỤC BÁT để viết về thơ KINH ĐIỂN. Với phương thức chọn lựa này chắc chắn  tác giả phải  thật hiểu rõ về vần, điệu và tiết tấu… của thể thơ này mới có quyết định như vậy, vì thể thơ LỤC BÁT, tuy dễ gieo vần, nhưng vì gần gũi với Ca dao và Vè nên lắm lúc nhiều nhà thơ sử dụng thể lọai này, bài thơ của họ có những âm điệu gần giống như một bài Ca dao hay Vè, tạo cho người đọc nhiều nhàm chán. Nhưng với tác giả Võ Thành Văn khi áp dụng thể loại LỤC BÁT cho việc viết thơ  KINH ĐIỂN, ông đã thành công một cách nhất định. Trong 10 tập thơ  Cát Bụi. Ngoài sự am hiểu về vần , điệu , tiết tấu … ông còn chứng tỏ khả năng hiểu biết bất tận của mình về bố cục của thể thơ này. Ông dùng cú pháp và ngôn ngữ  trôi chảy, ổn thỏa. Đặc biệt trong tập thơ Cát Bụi 2 , tác giả Võ Thành Văn cho người đọc thấy nghệ thuật sử dụng vần , điệu một cách tài tình. Có những đọan thơ gần như là yểu vận mà ông vẫn gieo vần một cách mạch lạc, rõ ràng, như trong đọan thơ: 

“ Cát đi vấp bóng hoàng hôn
   Bụi bay rã cánh, nậm hồn cõi xa
   Về đây bện cõ lợp nhà
   Ngắm chân đá vựng mây là đà bay”
Hay : 
“Gió mang phún thạch ra đi
  Người về nhân thế thị phị bụi làn
  Ta về củi mục non ngàn
  Tình hâm. Tro lạnh. Đêm tàn. Rượu vơi.”

Cũng trong hình thức, tác giả Võ Thạnh Văn không phải vô tình cho người đọc thấy sự đặc thù  trong cách  sử dụng thể thơ LỤC BÁT trong “ KINH VÔ THƯỜNG” của ông. Mở bất cứ tập thơ Cát Bụi nào củaVõ Thạnh Văn chúng ta đều thấy phần lớn những câu 6 hay 8 đều được trình bày ngắt đọan bởi một dấu chấm,  nhưng ý nghĩa  của câu văn  tác giả muốn trình bày vẫn rõ nghĩa. Làm thơ Lục Bát lối này có phải chăng đó là một thể thức mới một kiểu lập dị riêng biệt  mà chỉ có tác giả Võ Thạnh Văn mới  là người ưu tiên thực hiện?  Chúng ta hãy xem đọan thơ sau đây để thấy sự sáng tạo trong thơ Lục Bát của tác giả Võ Thạnh Văn.

 “Mưa sa . Bão Táp. Sóng nhồi
   Trăm năm (ngụp lặn mé đời) phồn hoa
   Cuối mùa. Thác Lọan. Kinh qua
   Bóng ai ( chao đảo sương tà) rơi nghiêng.”
Hoặc:
“ Cát nào. Không trước. Không sau
   Không sinh. Không diệt. Không dày. Không thưa.
   Bụi nào . Không thiếu. Không thừa.
   Không biến. Không hóa. Không trưa. Không chiều.”

Về nội dung, 10 tập thơ Cát Bụi trong KINH VÔ THƯỜNG, nhất là tập Cát Bụi 2, chúng ta thấy Võ Thành Văn là một nhà thơ luôn sáng tạo, ngoài can đảm , tài tình, ông cũng còn là một nhà mô phạm, một nhà tu có một kiến thức triết học và thần học thuộc cấp thượng thừa. Tác giả đã thấu triệt nhân sinh quan của Phật giáo về căn nguyên của con người theo lẽ tuần hoàn của tạo hóa , “ Con người từ đâu mà sinh ra, chết sẽ đi về đâu, có còn vì đâu hay mất hẵn ?”.  Trả lời câu hỏi này ông viết:

“ Người từ ( cát bụi) đầu thai.
   Nghe kinh. Hóa cội hoàng mai. Đền Thần
   Ta từ (sõi) vụn liều thân
   Ngẩn ngơ. Trôi giạt. Phù trầm. Hợp  ly.

 Tác giả khẳng định con người từ cát bụi từ đất mà có, sự khẳng định có tính khoa học đó của tác giả  chúng ta thấy phù họp với thuyết tạo vật của Đức Chúa Giê su, người cải cách một tôn giáo cổ ở Do Thái . Đạo ấy tiêu biểu Đức Chúa Trời là một vị duy nhất sinh ra Trời- Đất và muôn vật.  Theo bộ Tân Ước, Cựu Ước thì vũ trụ  này trước đây là một khoảng mênh mông , mù mịt. Nhờ tài năng và huyền phép của Đức Chúa Trời , trong 7 ngày Ngài tạo thành mặt Trời, mặt Trăng, Tinh tú, Đất, Nước, Núi , Sông, Cây Cối , Người và Vật. Cùng trong 7 ngày ấy, Ngài lấy chút đất hà hơi thành ra ông Adam, đồng thời lấy chút đất khác cùng mấy dẻ xương sườn  của ông Adam , hà hơi vào thành ra bà Eve. Hai người lấy nhau , sinh xuống cõi trần  làm thủy tổ loài người, sau khi hai ông bà đã phạm vào trái cấm của Chúa. Từ đó con cháu  loài người đều bị bó buộc trọng tội tổ tông truyền . Ai biết tôn trọng, kính thờ, vâng lời Chúa sẽ được lên thiên đàng, đời đời sung sướng , trái lại sẽ phải đọa đầy xuống địa ngục.
Bởi chân con người là Cát Bụi nên phải trở về Cát Bụi . “Đời sinh ta  ra ta là Cát. Đời đưa ta đi , ta về đất.... Và anh đã về , một chiều anh đã về quê.”( Huyền Thoại Người Mang Tên Quốc của Phạm Duy) . Cho nên từ trạng thái vật chất cát bụi  trở thành người bởi hóa kiếp, nghĩa là không mãi mai ở yên trong trạng thái nhất định nào , luôn chuyển hóa và thay đổi hình dạng . Từ trạng thái hình thành , cao thấp, to, nhỏ, tan rã , những giai đoạn thay đổi đó tác giả cho là “ Vô thường” và theo Phật gọi là định luật : Thành, Trụ , Họai Không.
Con người là thực thể hiện hữu trong thế gian nên cũng không thóat khỏi sự biến đổi , hư hoại nên không tránh khỏi định luật vô thường, lúc có lúc không.

 “ Tay vo (hạt cát) vô thường
    Miên man hoa sóng . Miên trường sắc không
    Bọt bèo ( xô giạt) nhánh sông
    Nhấp nhô thuyền đậu. Ngùi trông thuyền về.”

Ngoài những kiến thức thâm thúy triết lý về kiếp sống tạm bợ của con người trên cõi thế gian, Võ Thạnh Văn còn chứng minh cho người đọc thấy khả năng uyên bác của ông về thuyết Luân Hồi  của Đạo Phật . Được sinh ra làm người con người phải tu chuyên và trải qua nhiều kiếp và nó luôn gắn liền với thuyết nhân quả và nghiệp quả, nghiệt oan.

“ Tự thân (hạt bụi) nhuốm sầu
   Tìm về ( với cát nối cầu) nghiệt oan

Đạo Phật xem việc sống chết là một vấn đề quan trọng , làm nhân loại luôn thắc mắc và băn khoăn. Và từ sự băn khoăn đó nên có nhiều quan niệm về vấn đề này.  Thuyết chấp đọan cho rằng, loài người cũng như vật chất, chết là mất hẳn không còn gì sau đó: “là cát bụi , con người trở về cát bụi”. Thuyết chấp thường thì trái lại, cho rằng con người chết đi linh hồn vẫn còn, vẫn vĩnh viễn lên thiên đàng hoặc mãi xuống địa ngục. 
Với Võ Thạnh Văn , tuy am hiểu thuyết luân hồi của Phật giáo, nhưng vì trước đây là một tu xuất nên có thể ông dễ dàng chấp nhận thuyết chấp đọan hơn , vì con người tiền thân là cát bụi phải trở về cát bụi, mặc dù bị quá trình tạo kiếp chi phối . Con người có những nỗi khổ đau tự tại trong kiếp sinh.

“ Khổ đau. Tự tánh. Vô thường
   Hốt nhiên . Tụ tá. Như thường. Như không.
   Nửa  khuya lạnh nụ yêu hồng
   Mai mùa tình . Chín rục. Nồng ngát hương.” 

Thân phận của Cát bụi trong KINH VÔ THƯỜNG CỦA Võ Thạnh Văn , chính là thân phận của con người có những cảm giác , cảm nhận vui , khổ hoặc không vui khổ  từ Ngũ Uẩn ( Mắt , Tai, Mũi , Lưỡi, Thân) . Rồi cũng từ năm giác quan này đưa con người đến ý thức tâm thiện hay tâm ác, mà sinh ra u sầu hay trụ lạc.

“ Cát pha bụi. Lạnh lòng tay
   Nồng đêm trăng giải. Ấm ngày sầu chao
   Tình buồn ( từ thuở) uyên trao
Vàng rơi. Ngọc rụng. Mày chau. Châu trầm.


Trên khía cạnh học thuật, chúng ta đều phải công nhận tác giả Võ Thạnh Văn là người thêm vào tòa nhà văn học Việt Nam một nghệ thuật mới trong cung cách sáng tác và sử dụng cấu trúc trong thể thơ Lục Bát rất thuần điệu.  Xưa nay, dùng thơ để viết kinh là thông thường, nhưng dùng thơ Lục Bát và ngắt dấu  để viết Kinh Thư mới là một phát sinh mới đáng đề cập.
Với KINH VÔ THƯỜNG,ø đại để là 10 tập thơ  Cát Bụi,  mà đặc trưng là Cát Bụi 2, chúng ta còn thấy nơi Võ Thạnh Văn một con người luôn tìm tòi học hỏi , nghiên cứu sâu về các triết lý sống của nhiều Đạo Giáo. Ngoài các triết thuyết lớn của các tôn giáo hiện hữu. Võ Thạnh văn đã còn có một triết lý sống cho chính bản thân mình. Tác giả  đem niềm vui vào sự nghiên cứu triết lý, cho bản thân và cho giới nghiên cứu triết học. Với Võ Thạnh Văn triết lý là bình thường, là nhân văn là trong cuộc sống thường ngày của con người, những bị , lạc, ….đó là triết lý, nó là những ý thức, ý niệm không xa vời với con người. Thái độ khiêm cung trước mọi người cũng chính là triết lý sống của tác giả. Cũng với tác giả ý thức quan niệm của con người  còn là một triết lý sống thực hơn hết.  Đó là lối sống “không xa đời, không tránh người, gần với trời , hòa với đất, vui với đạo, yên với đức , bằng lòng với số mệnh, chấp nhận an bài , không oán, không ghét không giận, không hờn chỉ thương, chỉ nhớ, nên vui, nên mừng, để tích hợp diệu nghĩa, để biểu đạt lương duyên”
Vì am thấu đời người là vô thường nên tác giả chấp nhận lẽ trời như là một thực thể trong cuộc sống của mình, rồi chiêm nghiệm sự tất yếu của luật vô thường mà sẵn sàng kết thân với sự chết, để biết hành tàng của sự  Thành, Trụ, Họai Không, từ đó sẳn sàng cho linh hồn mình có sự  tự do thoát khỏi mọi sự trói buộc sự phóng đãng của lý trí.

“ Ngày mai cát bụi xa rồi
   Ta lên đồi vắng. Ngóng môi mắt về
   Bốn bề (sương tỏa) lê thê
   Trường sơn ( lạnh ngắt như mê) mộng vờn”

Tóm lại,  với quan niệm đời người là cát bụi phù du, nay còn mai mất, và dù chấp nhận lẽ tất yếu của thuyết vô thường, nhưng tác giả vẫn phải tranh đấu để tồn tại dù sự tồn tại trong giới hạn của một kiếp nhân sinh. Không vì hiểu đời là vô thường mà thụ động trong cuộc sống, Võ Thạnh Văn luôn làm việc siêng năng để có được cái cơ may trong cuộc sống làm người, ông sáng tác , viết sách, viết kinh không phải để khoe cái kiến thức uyên bác của mình, hay muốn thế hệ sau biết về mình hoặc mong có đuợc người tri âm hay tri kỷ. Hơn ai hết ông đã biết: 

“ Chìm trong khói bụi . Am tăng  
  Vô thường một thoáng .Thường hằng phù vân 
   Xác thân ( huyễn hoặc ) vô ngần
   Độ người siêu thoát . Trăm ngần họa tai”

Võ Thạnh Văn viết kinh , viết sách , hay làm thơ , làm văn chương đó chỉ qua là để trả cái nợ nhân sinh của người tuấn kiệt . “Âu đó cũng là cái nghiệp dĩ của một kiếp tài hoa.”

HÀ ĐÌNH HUY 



NHẬN ĐỊNH VỀ CD ALBUM ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH  CỦA NHÀ THƠ TÂM THƠ VÀ NHÓM NGHIÊN CỨU

HÀ ĐÌNH HUY
Nhà thơ Tâm Thơ - Cúc Nguyễn, thủ quỹ của Cơ sở Thi Văn Đàn Lạc Việt có đưa cho tôi một CD Album về Truyện Kiều, nhã ý nhờ tôi có một vài nhận xét về CD Album này của nhà thơ. Thành thật mà nói, tôi không dám nhận lời này của nhà thơ Tâm Thơ, bởi nhiều lý do tế nhị, chính yếu là khả năng nhận định, nghĩa là phải nhận định thế nào cho trung thực và nhất là tác phẩm truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du đã có quá nhiều văn thi sĩ cũng như các nhà làm văn học nghiên cứu và viết cảm tác nhiều rồi. Tuy nhiên, vì cùng là bạn thơ và đồng quan điểm với các đàn anh trong Cơ Sở Văn Thi Đàn Lạc Việt làø: giúp đỡ cho những cây bút trẻ phát triển mạnh mẽ trong lãnh vực sáng tác, đồng thời nghĩ rằng, dù trước đây có nhiều nhà nghiên cứu viết nhiều cảm tác đối với Truyện Kiều , nhưng chắc mỗi người đều có nét độc đáo riêng nên tôi mạo muội nhận lời.
Theo một số tài liệu khả tín thì có hơn 100 người làm công việc này, nhưng mỗi người đều có một đặc thù riêng trên phương diện nghiên cứu và viết cảm tác. Có người chỉ đề cập đến lãnh vực đạo đức trong Truyện Kiều, người khác thì về tính dục hoặc về triết lý …
Đối với nhà thơ Tâm Thơ lại có cái nhìn khác, nhà thơ đã bỏ nhiều thời gian để cùng nhóm nghiên cứu đến nhiều lãnh vực của Truyện Kiều như  nguồn gốc , tiểu sử, giá trị văn chương…
Mở đầu CD Album nhà thơ và nhóm đã chọn bài thơ Đường của tiến sĩ  Phạm Húy  Thích, người bạn cùng thời của đại thi hào Nguyễn Du để khai lưu cảm tác của mình với Truyện Kiều.

Giai nhân bất thị đáo tiền đường
Bán thế yên hoa trái vị thường
Ngọc diện khởi ưng mai thụy quốc
Băng tâm tự khả đối kim lang

Đọan trường mộng lý căn duyên liễu
Bạc mệnh cầm chu oán hận trường
Nhất phiến tài tình phiên cổ lụy
Tân thanh đáo để vị thùy thương

Giọt nước Tiền Đường chẳng rửa oan
Phong ba chưa chắn nợ hồng nhan
Lòng tơ còn vướng chàng Kim Trọng 
Gót ngọc khôn đành giấc thụy khoan

Nửa gối đọan trường tan giấc điệp
Một giây bạc mệnh giấc cầm loan
Cho hay những kẻ tài tình lắm
Trời bắt làm gương để thế gian 

Nhóm nghiên cứu và nhà thơ Tâm Thơ, chọn bài đường luật của tiến sĩ Phạm Húy Thích âu cũng có dụng y,ù vì nhóm  đã biết rõ ông là bạn thân của thi hào Nguyễn Du, nên có nhiều gần gũi với Nguyễn Du. Lại nữa ông là một danh sĩ  giữ nhiều chức vụ quan trọng của ngành  văn hóa trong triều đình thời bấy giờ. Cho nên nhóm và nhà thơ Tâm Thơ đã không ngần ngại chọn thơ của ông để mở đầu CD Album của mình.
Đi theo  Phạm Húy Thích để gần gũi với thi hào Nguyễn Du, nhà thơ Tâm Thơ cùng nhóm đã tìm hiểu thật ngọn ngành về tiểu sử của thi hào Nguyễn Du, nguồn gốc tác phẩm và giá trị văn chương.

Về mặt tiểu sử:

Theo nhóm và nhà thơ Tâm Thơ: Nguyễn Du có tên úy là Du, tự là Tố Như , hiệu là Thanh Hiên, biệt hiệu là Hồng Sơn Hiệp Lộ, hay Nam Hải Điếu Đồ. Sinh năm Ất Dậu niên hiệu Cảnh Hưng thứ 26 năm 1765. Mất vào ngày mồng 10 tháng 8 năm đầu niên hiệu Minh Mạng  năm 1820. Là con thứ 7 của ông Xưng Quận Công Nguyễn Nghiễm. Người Làng Tiên Điền Huyện Nghi Xuân Trấn Nghệ An. Nguyễn Du thiên bẩm hậu về tình, hùng về khí , cao về tài , uyên bác học vấn. Cảnh ngộ 11 tuổi mất cha 13 tuổi mồ côi mẹ. Thiếu thời sống nhờ anh ruột là Nguyễn Khản , làm con nuôi của một võ quan họ Hà . Lập gia đình rồi lại có thời phải tá túc nhà anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn. Gặp lúc tình hình đất nước biến động Trịnh Mạc rồi đến Lê Triều suy , Tây Sơn dẹp giặc Thanh họ Nguyễn Tiên Điền cũng sa sút. Nguyễn Du trải qua 10 năm gió bụi cho đến năm 1802 mới ra làm quan triều đình nhà Nguyễn được thăng chức rất nhanh, từ tri huyện lên tham tri vào năm 1815, làm chánh sứ đi Tàu đời nhà Thanh vào năm 1813. Nhờ từng trải nhiều cảnh ngộ , với tư chất chúng nên văn chương Nguyễn Du dung hóa , thấu lý nhập thần. Nguyễn Du sáng tác nhiều tác phẩm  viết bằng Hán Văn như Thanh Hiên Thi Tập, Nam Trung Tạp Ngâm,Bắc Hành tạp Lục. Lời thơ vô cùng điêu luyện, bút pháp hoàn mỹ . Tác phẩm được xem như tiêu biểu nhất cho Nguyễn Du là Đoạn Trường Tân Thanh và Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh đều được viết bằng quốc âm, tức là chữ nôm xưa kia. Cả hai tác phẩm này có trình độ nghệ thuật bậc thầy đầy ắp tình nhân đạo, phản ánh sinh họat xã hội bất công, cảnh đời dâu bể . Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh là một tác văn ngắn viết theo thể văn tế. Trong khi Đoạn Trường Tân Thanh là một trường thiên viết bằng văn vần, thể thơ lục bát có một giá trị văn chương tuyệt tác trước sau chưa từng có trong văn học Việt Nam.

Về nguồn gốc:

Nhóm nghiên cứu và nhà thơ Tâm Thơ, cũng xác quyết rằng từ giữa thế kỷ 18 qua đến thế kỷ 20  Truyện Kiều được in ấn, chú giải được phổ biến từ Bắc chí Nam Việt Nam dưới dạng chữ Nôm và phiên ấm quốc ngữ , nhưng vì bản gốc thất truyền nên có hơn 20 dị bản chữ Nôm lẫn quốc ngữ được lưu hành ở Việt Nam cũng như cất giữ trong các thư viện quốc gia nước ngoài. Kể từ bản khắc nôm cổ của Liễu Văn Đường in vào năm Bính Dần Tự Đức thứ 19 năm 1866, vừa phát hiện và đang lưu giữ tại nhà lưu niệm Nguyễn Du ở Tiên Điền cũng có nhiều chỗ khác biệt so với bản in  của chính Liễn Văn Đường in năm 1871, đang lưu giữ tại liên trường sinh ngữ Paris.

NHóm nghiên cứu và nhà thơ Tâm Thơ cũng cho rằng  các nhà xuất bản hay các nho gia và các học giả tên tuổi cuối thế kỷ thứ 19 và đầu 20  đều có thủ đắc riêng những ấn bản nhưng đều dị biệt. Di biệt ngay trang đầu của ấn bản . Thí dụ ngay trang bìa của ấn bản do nhà in Quan văn Đường phát hành vào năm Thành Thái thứ 9 thì có tựa là : Kim Vân Kiều Thi Tập Thời Hiền Thi Cự. Trong khi bản in chữ nôm của Kiều Óanh Mậu năm 1902 thì có võn vẹn 4 chữ Đoạn Trường Tân Thanh , còn bên trong có hàng trăm câu chữ không đồng nhất mà ý kiến của mỗi nhà chú giải cũng có nhiều chỗ dị đồng đôi khi trái ngược hẵn nhau. Xin  dẫn bằng 2 câu 7 và 8 của Truyện Kiều . Đó là hai câu mà hầu hết  ai thuộc ít nhiều câu Kiều cũng đều biết  chẳng cần gì đến  
các bậc học giả:

“ Cảo thơm lần dỡ trước đèn
Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh”

Đã có những dị bản câu thứ 8 như: “ Phong tình cổ lụy còn truyền sử xanh” hoặc “Phong tình cổ tích còn truyền sử xanh” hoặc “ Phong tình có lúc còn truyền sử xanh”. Và những ý kiến khác nhau của những nhà chú giải đã gây ra nhiều cuộc tranh luận gay gắt trên báo chí sách vở từ trước đến giờ. Vần đề dị bản truyện Kiều là một lãnh vực chuyên môn . Vì thế nhà thơ Tâm Thơ đánh tiếng , đó không phải là đường hướng nghiên cứu của nhà thơ, và vì nhà thơ thực hiện CD Album theo hình thức thanh nhạc dân tộc , nghĩa là có ngâm thơ, nên nhà thơ đã chon một ấn bản truyện Kiều có tính thuần lý và  dung hòa , phổ thông nhất ở Việt Nam là ấn bản của học giả Đào Duy Anh để làm văn bản cơ sở nghiên cứu. Và nhà thơ cũng mong sự đồng cảm của các bậc thức giả trong chọn lựa tế nhị nay của nhà thơ.

Sự lên tiếng kính cẩn của nhà thơ Tâm Thơ đối với vấn đề chọn lựa ấn bản để thực hiện sự nghiên cứu, đó là thái độ lịch thiệp của một con người cầm bút chân chính phải có . Theo thăm dò một số ý kiến của các bậc trí giả, họ đều đồng ý rằng ấn bản của Đào Duy Anh vẫn rõ ràng hơn về mặt nội dung cũng như hình thức.

Tuy nhiên để bổ sung vào việc truy tìm nguồn gốc của tác phẩm Đọan Trường Tân Tân gần đây nhất người ta tìm thấy bản Kiều cổ nhất ấn bản năm 1852.
Theo người viết tin tín cẩn về sự việc này là Vũ Toàn thì gần 100 pho sách cổ về gia phả dòng họ Nguyễn Tiên Điền ở huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) vừa được phát hiện trong gia đình một công chức ở TP Vinh (Nghệ An). 
Điều thú vị nhất trong 100 pho sách này là lần đầu tiên độc giả của Truyện Kiều và giới Kiều học được nhìn thấy dòng chữ viết tay của học giả Lê Thước về giờ, ngày, năm sinh, nơi sinh của đại thi hào Nguyễn Du và một bản Kiều cổ nhất. 

Không khỏi ngạc nhiên về giá trị văn học, lịch sử, địa lý... đang tiềm ẩn trong gần 100 pho sách rất cổ. Đặc biệt, nhiều cuốn sách chữ Hán Nôm được những tên tuổi dòng họ nổi tiếng này viết tay. Đặc biệt hơn, cuối một số cuốn còn nguyên lưu bút những suy ngẫm về thời thế, văn chương của họ. 

Bộ sưu tập sách cổ 

Khởi thảo cuốn bản thảo gia phả dòng họ Nguyễn Tiên Điền do cụ Nguyễn Nghiễm viết. Sau đó cụ nghè tiến sĩ Nguyễn Mai tục biên (chép lại) thành bản gốc. Đây là cuốn gia phả gốc, rất chi tiết về dòng họ Nguyễn Tiên Điền lần đầu tiên được phát hiện. 
Tiếp theo là cuốn gia phả lược trích tên, chức vụ phần đại tôn của dòng họ, tóm tắt những nét cơ bản và những biến đổi trong xã hội gây tác động lớn lao tới dòng họ từ đời thứ nhất đến đời thứ mười. 
Cuốn này do con trai và con rể cụ Nguyễn Trọng (cháu cụ Nguyễn Mai) là Nguyễn Hiệu và Lê Văn Diễn viết vào đời Minh Mạng thứ 9 năm 1828. Cũng tại cuốn gia phả gốc, học giả Lê Thước (1891-1976) đã viết thêm vào phần cuối về cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Du. Có thể đọc thấy những dòng chữ: “Cụ Nguyễn Du sinh giờ Dần ngày 23-11 năm Ất Dậu (năm 1765 âm lịch - NV), hiệu Cảnh Hưng thứ 26, triều vua Hiến Tôn, nhà Lê (tức ngày 3-1-1766 dương lịch). Nơi sinh, ở biệt thự Trung cần công Nguyễn Nghiễm, tại phường Bích Câu, thành Thăng Long”. 

Kế bên là Truyện Kiều chép tay (do mất bìa và một số trang nên chưa rõ năm ra đời) và cuốn Kim Vân Kiều lục, gồm 64 hồi (biến thể Truyện Kiều dùng cho hát trò Kiều) được chép tay năm 1852. Đây là bản Kiều được xem là cổ nhất hiện nay sau bản Kim Vân Kiều tân truyện của nhà tàng bản (khắc in) Liễu Văn Đường, in năm Tự Đức thứ 19 (1866) được phát hiện năm 2004 trong một gia đình giáo viên ở xã Thanh Lương, huyện Thanh Chương (Nghệ An). Phần sau cuốn Kim Vân Kiều lục là toàn bộ Hịch Văn Thân Nghệ Tĩnh cũng được viết tay bằng những nét chữ khá đẹp. 

Bản Kiều chưa rõ năm ra đời 
Ngoài ra, còn có rất nhiều cuốn sách quí khác, ví như cuốn Hát trò Kiều (ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân); Ngọc Hoa cổ tích truyện của vua Khải Định; tập thơ Nam Sơn Thám hoa của Nguyễn Đức Đạt viết tặng; một số bài thơ, câu đối đặc sắc của Nguyễn Hành; Huấn tự quốc ngữ ca (sách dạy con); bộ sách thuốc, châm cứu - 50 cuốn; bộ sách địa lý, thiên văn - 10 cuốn và cuốn Địa lý gia truyền bí quyết (gồm bản thảo, bản gốc) do cụ Nguyễn Quỳnh (ông nội Nguyễn Du) viết tay. 

Cuối cuốn sách này, cụ Nguyễn Quỳnh viết: “Nếu đọc được sách hay và viết được sách hay có ý nghĩa như thế này thì cuộc đời tôi sẽ không làm gì hơn là chỉ đọc sách và viết sách. Vì những việc làm từ câu chữ trong sách sẽ giúp ích lớn cho đời”. 

Ông Nguyễn Hải Nam, giám đốc Trung tâm Văn hóa - thông tin - thể thao huyện Nghi Xuân, người phát hiện, sưu tầm 100 pho sách cổ này, cho biết: “Chủ nhân số sách quí là một cán bộ công chức ở TP Vinh, thuộc dòng họ Nguyễn Tiên Điền. Khi tôi đến tìm, ông cho biết sách được cất giữ trong các thùng cactông, gác cẩn thận trên xà nhà. Ông bảo: “Trước khi mất, cha tôi dặn tất cả sách này đều rất quí nhưng quí nhất là hai cuốn Truyện Kiều, cuốn gia phả và bộ sách thuốc nên được cất riêng trong một tráp gỗ sơn son”. Nhưng từ đó cho đến khi mang được toàn bộ số sách về trung tâm văn hóa huyện phải mất hai ngày thuyết phục, vì ông tưởng tôi đi buôn sách cổ thì hỏng hết. Rất may, tôi cũng là con cháu họ Nguyễn Tiên Điền, lại làm ở Trung tâm Văn hóa Nghi Xuân nên ông tin và cả quyết giao cho”. 

Về giá trị văn chương:

Về phương diện giá trị văn chương, nhà thơ Tâm Thơ và nhóm nghiên cứu cũng đồng quan điểm với các nhà nghiên cứu trước đây tác phẩm Đọan Trường Tân Thanh của đại thi hào Nguyễn Du là một kiệt tác, một khúc nam âm tuyệt xướng. Lời lẽ xinh xắn mà văn hoa, âm điệu ngân vang mà tròn trịa. Nói tình thì vẽ được hình trạng, hợp ly, cam khổ, mà tình không rời cảnh; tả cảnh thì bày hết thú vị tuyết nguyệt phong hoa, mà cảnh thì tự vướng tình, khiến người cười, khiến người khóc, khiến người giở đi giở lại ngàn lần, càng đọc thuộc, lại càng không biết chán từ hàng vua quan, khoa bảng đến người dân đều nhiệt liệt ca ngợi. Cho nên hàng bao thế kỷ đi qua, đến nay chưa có tác phẩm nào thay thế được trong nền văn học Việt Nam, và vì  tính văn chương cao như thế nên truyện Kiều được diễn dịch ra nhiều ngôn ngữ để truyền bá nền văn học của nước nhà.

Kết luận 

Tóm lại nhà thơ Tâm Thơ và nhóm đã bỏ công thực hiện CD Album theo hình thức Thanh Nhạc Dân Tộc, có thể nói đây là một hình thức khá mới mẻ đối với việc thực hiện cảm tác đối với truyện Kiều từ trước đến nay. Việc làm này có tính thời đại về kỹ thuật và văn minh . Lại nữa CD Album được có sự cộng tác của nhiều nghệ sĩ tên tuổi trong và ngoài nước như Tô Kiều Ngân , Đoàn Yên Linh, Hồng vân, Thanh Trung, Tuấn Phong, Thúy Vinh, Kim Lệ, Đài Trang, Bích Ngọc, Ngô Đình Long, Thanh Quang, Văn Xuân Thy, Bảo Cường, Vân Khanh, Hương Sen, Kim Luyên,THùy Dương, và Thy Thảo. Cùng với dàn nhạc : Thạch Cầm, Thúy Hạn, Thanh Bình, Vũ Thành , Xuân Huyền, Kim Long, Tô Kiều Ngân, Mạnh Hùng. 
Một trong những nhà làm văn học lão thành hiện đang ở hải ngoại, khi nghe qua CD Album Đoạn Trường Tân Thanh của nhà thơ Tâm Thơ và nhóm nghiên cứu ông buộc miệng nói: “ Đây là một tác phẩm có tính nghiên cứu thời đại với kỹ thuật cao và mới mẽ nhất trong các loại thực hiện nghiên cứu , của các bậc trí giả từ trước đến nay” . Một nhà thơ khác lại phát biểu: “ Đây là một công trình có tính thực tiễn văn học mà nhà thơ Tâm Thơ và nhóm nghiên cứu thực hiện, với tâm huyết tạo cho những người yêu văn thơ Việt Nam có một tác phẩm qua hình thức nghe hơn là đọc. Với CD Album này, hy vọng là một phương tiện tạo cho người nghe về Truyện Kiều dễ dàng hơn và thích thú hơn . Cũng mong qua hình thức này của nhà thơ Tâm Thơ và nhóm nghiên cứu  người Việt sẽ hiểu rõ một cách đích xác về truyện Kiều, và càng ngày càng yêu mến Truyện Kiều hơn”. Yêu Truyện Kiều tức là yêu quê hương đất nước. Bởi học giả Phạm Quỳnh có nói: “ Truyện Kiều còn là tiếng ta còn” . Vậy người viết bài này cũng xin mạo muội viết : Tiếng ta còn, là đất nước còn” và cũng là câu cuối cùng để kết thúc bài nhận định này đối với CD Album của nhà thơ Tâm Thơ và nhómthực hiện CD Album Truyện Kiều.

HÀ ĐÌNH HUY