Thứ Ba, 17 tháng 12, 2013

TRÁI TIM CAO CẢ
         
HÀ ĐÌNH HUY


Mặc dù trong họ hàng nhà tôi có nhiều người đã chết trong cuộc chiến tranh  Quốc – Cộng hoặc vì lý do khác. Tôi đã chứng kiến thân xác của họ khi đem về mai táng không còn nguyên vẹn . Có người khi chết chỉ còn là những miếng thịt vụn  trộn lẫn máu và đất cùng với màu khói hung thuốc nổ của một quả mìn . Có người khi gia đình chôn cất chỉ có một thân không có đầu, bởi chiếc đầu đã để lại một góc nào trên chiến trường, không thể tìm thấy sau một trận đánh  sáp lá cà với vũ khí chỉ toàn là mã tấu và mìn claymore. Cũng có những người chết trên giường bệnh sau cơn bệnh hành hạ thân xác đau đớn hơn 10 năm…   Nhưng thú thật, tôi ít khi có những cú sốc như lần mẹ tôi qua đời. Mẹ tôi mất tôi vừa đến tuổi 40 tuổi, cái tuổi có cuộc sống ngoài xã hội tương đối chửng chạc về mọi  mặt ( theo quan niệm của đa số người lớn tuổi ở quê tôi) và tôi cũng đã cảm thấy điều đó đúng phần nào qua cá nhân của tôi. Tuy nhiên, tôi vẫn bất lực trước một tình cảm thiêng liêng nghiệt ngã, và đã tưởng rằng mình sẽ chẳng bao giờ vượt qua nổi cú sốc ấy. Tôi quá xúc động mỗi khi nghĩ  tới  người.. Tôi vẫn biết “ Sinh, Lão Bệnh Tử” đó là qui luật của tạo hóa, nhưng tâm hồn của tôi không thể lặng yên và khó chấp nhận định luật nầy khi nghĩ đến cái chết của mẹ tôi. Cơn đau về tinh thần  đã hành hạ người tôi suốt nhiều năm. 
 Khi mẹ tôi lâm bệnh, anh em chúng tôi chạy chữa cho mẹ dưới mọi hình thức: thuốc Tây, thuốc Tàu và ngay cả thuốc Nam cũng dùng vào việc chữa trị, nhưng bệnh không thuyên giảm. Đến một ngày phải đưa mẹ vào bệnh viện chữa trị. Tôi được các anh chị tôi ủy thác thường trực trong bệnh viện săn sóc cho mẹ, sở dĩ tôi được làm nhiệm vụ này vì tôi là kẻ vô gia cư, không một “đồng ten dính túi” trong thời gian  mẹ tôi bệnh. Các anh chị thì có điều kiện hơn phải ở bênh ngoài để kiếm tiền trang trải viện phí. Mỗi ngày y tá đến giường bệnh của mẹ tôi thay những tấm ra trắng nơi chỗ mẹ nằm, và đặt kim chích trên người của mẹ rút ra từng ống nước màu vàng hôi tanh khó ngửi, những ống nước vàng được bọc kín lại sau khi hút xong và để vào một mâm riêng biệt rồi đem đi một nơi vệ sinh kín đáo. Tôi hỏi người y tá về bệnh trạng của mẹ, nhưng người y tá phục vụ không giải đáp rõ ràng, và bảo tôi nên hỏi bác sĩ điều trị. Gặp bác sĩ điều trị của mẹ tôi trong một quán nước ngoài khuôn viên bệnh viện. Bác sĩ vẫn không cho tôi tìm hiểu thêm về bệnh trạng của mẹ tôi, người chỉ nói là sẽ cố gắng điều trị cho mẹ, sau khi tôi “dúi” vào tay của ông năm trăm ngàn đồng tiền của chế độ Cộng sản. 
 Sau lần  gặp bác sĩ T, người điều trị trực tiếp cho mẹ tôi, cách phục vụ cho mẹ trở nên khá hơn, nhưng bệnh của người thì không khá. Cơn bệnh bắt đầu tăng tốc làm đau cả thân thể của người. Mẹ không còn ngủ được trằn trọc và lăn lộn suốt đêm. Tôi phải đấm bóp cho người để giảm phần nào cơn đau nhức, nhưng cơn đau không chịu  khuất phục dưới đôi tay chưa lần  nào trả hiếu cho  mẹ, nên cơn đau không sợ và vẫn chủ động tấn công người đến rên xiết. 
Một ngày nọ, nhiều đàn chim lạ không biết từ đâu bay về, đậu đầy trên những cây cao su già cỗi còn sót lại sau một đợt triệt hạ gỗ để đun lò của ban giám đốc bệnh viện.  Trong khu cách ly ( khoa truyền nhiễm ) của bệnh viện Đa Khoa Tỉnh Tây Ninh có những con chim quạ đen, đi đi lại lại trên cành của một cây cao su khô và kêu những tiếng ghê rợn, hòa cùng tiếng kêu hỗn  hợp của nhiều giống chim khác, tạo nên một âm thanh quái đản như tiếng gọi của qủy dọa sa đang từ âm phủ trồi lên dương gian để bắt hồn người trong những phim ma kinh dị.
Mẹ tôi chết sau động tác rút nước trong buồng phổi lần thứ 50 của người y tá, khi chết thân thể của  mẹ tôi trở nên khô đét da xanh như  màu đọt chuối sứ non , khi mẹ còn sống trồng quanh nhà.
Tôi không thể nào hiểu nổi căn bệnh, bác sĩ điều trị thì nói rằng đó là một dạng ung thư  phổi. Chứng bệnh này thuộc vào loại nan y vì số nước trong buồng phổi tạo ra rất nhanh, trong vòng vài ba tiếng đồng hồ nước vàng có từ những nan phế quản tiết ra đầy lấp cả buồng phổi và tràn sang đè nặng lên tim sẽ làm cho bệnh nhân khó thở  đưa đến  tử vong vì tim ngưng đập. Trái lại khi hút hết nước vàng, hai buồng phổi khô sạch, nhưng lại dính sát vào nhau làm cho người bệnh dễ chết ngộp. 
Đám ma mẹ tôi được tổ chức theo lễ nghi tôn giáo Cao Đài. Theo luật của Đạo, người tín đồ Cao Đài Giáo, nếu khi còn sinh thời ăn chay đủ 10 ngày trong tháng khi qui liễu được thọ truyền bửu pháp, tức là các phép bí tích độ hồn trong cơ tận độ của Đức Chí Tôn, nếu còn ăn chay 6 ngày trong một tháng thì không hưởng được những điều này và tang lễ chỉ làm bặt tiến mà thôi ( Làm bặt tiến là làm lễ dâng lên các đấng Thiêng liêng xin cứu giúp vong hồn cho được siêu thăng) . Mẹ tôi vì không phải là một tín đồ thường, khi còn tại thế người tu tập với  nhiệm vụ như là một chức việc trong Cơ Quan Phước Thiện của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ  nên khi chết được nghi tiết tang lễ vào hàng Nhơn Thần, người được làm các phép bí tích như: phép xác, phép đọan căn, phép độ thăng, được hành lễ tế điện có bài thài, được làm tuần cữu, Tiểu Tường , Đại Tường, được tụng kinh cầu hồn khi hấp hối, kinh khi đã chết rồi, tại Đền Thánh hoặc Thánh Thất được dộng 9 tiếng chuông… Và mọi chi phí chôn cất đều do đồng đạo cùng với Hội Thánh lo liệu, mà tang quyến không phải tốn một khoảng tiền nào.
Tuy đám tang của mẹ tôi đầy đủ những lễ nghi, đầy đủ những đồng đạo gần xa những người đã ít nhiều tu tập cùng mẹ tôi khi người còn lúc sanh tiền. Đối với một đám tang như vậy thật là hiếm có cho một đời người, nhưng đối với tôi thì luôn cảm thấy thiếu vắng . Sự thiếu vắng phát xuất từ tâm linh của một người con mất mẹ. Từ nay tôi sẽ không còn thấy hình hài mẹ tôi trên cõi trần gian. Tôi không còn thấy người tươi cười mỗi khi thấy tôi từ  Sàigòn về thăm trong những ngày xuân, tôi cũng sẽ không còn thấy được hình dáng của người với chiếc áo dài trắng đọc kinh cầu nguyện cho bá tánh và nhân lọai được bình yên, cho chiến tranh Việt Nam sớm chấm dứt, cầu nguyện cho những đứa con đang chiến đấu gìn giữ an ninh và tự do cho đất nước, và tôi cũng không bao giờ còn  thấy hình dáng của người gồng gánh những gánh  thực phẩm lặn lội nhiều ngày đêm đến rừng sâu để thăm tôi trong trại tù cải tạo. Mẹ ơi! Giờ này mẹ ở nơi đâu? Mẹ có biết rằng con thương mẹ lắm không?
Trong nỗi bức xúc mất mác vô cùng tận, tôi chợt nhớ đến những bài thơ tôi đã viết trước mộ  trong ngày mở cửa mả cho mẹ. Tôi nhớ man mán và đọc lầm thầm để cố nhớ lại hình ảnh sinh họat của mẹ tôi. Bài thơ có đọan: 

Con cúi xuống  hôn lên lần  cuối
Mảnh hình hài người tạo ra con
Thân buốt lạnh như là băng giá
Mẹ chết rồi, mẹ đã đi xa.

Bổng nước mắt nhòa lên tròng khóe
Rớt dài lên mặt mẹ xanh xao
Chuổi thương đau như gào xé tế bào
Lòng thương mẹï dâng trào vô kể.

Con còn lại tâm hồn hoang phế
Kỷ niệm về năm tháng xa xôi
Nhớ những năm lặn suối trèo đồi
Nuôi con  trẻ ngược xuôi tù tội.

Trước quan tài, con rã rời quì gối
Nhớ mẹ hiền những nỗi  bâng khuâng
Nhiều đêm khuya con đã khóc thầm
Vì thế cuộc nên không gần mẹ.

Con cúi mặt âm thầm lặng lẽ
Đêm tràn về chạnh nhớ niềm riêng
Di ảnh còn đây mà mẹ ly phương
Mang thương nhớ con thường nhắc nhở.

Cúi lạy mẹ, con về, mẹ ở
Nắm đất gầy muôn thuở mẹ nằm 
Với trăng thanh, đồng nội sơn lâm 
Cho hồn mẹ cõi âm thanh thoát.

Suốt nhiều năm tôi thật sự như chiếc bàn không có chân, tinh thần ghập ghềnh, chồng chềnh như không định hướng mỗi khi tôi chợt nghĩ về người. Những hình ảnh của người mặc chiếc áo bà ba ngắn trắng tay vào những ngày hè nóng bức, đến trường tiểu học đón tôi sau giờ tan trường, nhớ những lần  người đỡ cho tôi những đường roi từ ba đánh vì tội trốn học, những năm  tôi học thi lấy bằng tốt nghiệp trung học, người lui cui dưới nhà bếp nấu và bưng cho tôi từng tô cháu ăn khuya…

Nói làm sao hết mẹ hiền ơi!
Công đức cù lao lẫn dưỡng nuôi
Chẳng quản thân, ngày đêm lặn lội
Cho đàn con được ấm no thôi

Mẹ đã vì đời vì các con
Tình thương mẹ rưới khắp nước non 
Không phân nghèo khó hay già trẻ
Dù bỏ xác thân tình vẫn còn

Mẹ là Bắc Đẩu giữa trời đêm
Soi sáng nhân gian khắp mọi miền
Vươn gương bác ái lần tay đuốc
Dẫn lối tình thương đến cõi thiên
…………………………………………………………………
Thế rồi thời gian trôi qua như là một liều thuốc kỳ diệu, dần dần những u buồn, nỗi đau trong tôi đã ngoai nguôi bớt phần nào. Tôi cảm thấy phấn khích trước sự hồi sinh kỳ diệu của thiên nhiên khi xuân đến.
Sau lần giổ và những lần thanh minh tảo mộ, tôi thường đến nghĩa trang thăm mẹ. Tôi chăm sóc trang trí hoa và quét vôi, sơn trên mộ mẹ khiến tôi vơi bớt những kỷ niệm đau buồn. Nhiều năm sau, tôi không còn có dịp thăm mộ mẹ nữa. Tôi bị  chính quyền cộng sản chuyển đi " vùng kinh tế mới" . Các anh chị của tôi cũng  bị chuyển đến những vùng xa xôi khác. Chúng tôi chỉ gặp nhau vào những dịp giổ lễ, đặc biệt là ngày lễ thanh minh tảo mộ trong dịp xuân về. Thời gian trôi đi… anh em chúng chúng tôi sống như đàn gà con mất mẹ. Ba tôi mất khi tôi còn quá nhỏ và người anh cả lúc đó mới chỉ đủ tuổi trưởng thành. Thời gian ba tôi qua đời chúng tôi sống chung trong gia đình với mẹ. Những năm tháng còn lại của mẹ dường như để đền bù nỗi đau mất cha của tôi. Bây giờ đến lượt mẹ tôi nằm xuống yên nghĩ dưới một tấm mộ bia bằng xi măng sơn trắng ghi vài dòng chữ đơn sơ : “ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Phần Mộ Giáo Thiện Hà Thị Ngàn, Sinh Quán Thanh Điền Tây Ninh, Ngày qui vị: 3-9 năm Tân Mùi, Tử Tôn lập mộ” . 
Sau khi chương trình “ Kinh tế mới” của chính quyền Cộng sản bị thất bại.Người dân bỏ về thành phố sinh sống. Theo phong trào tôi cũng về lại nơi cư ngụ ngày trước. Tôi lại có dịp đến nghĩa trang thường xuyên hơn. Tôi thường chọn ngày nắng ấm để đến thăm mộ cha mẹ tôi. Những lúc ấy, dường như tôi lại được trở về bên cạnh họ, dù chỉ trong ý nghĩ. Sự yên tĩnh nơi đây khiến lòng tôi bình yên hơn. Tôi thường quan sát những người xung quanh cũng đang bận rộn chăm sóc phần mộ của người thân họ và tự hỏi không biết họ đang thương tiếc cho ai? Tôi không hề quen họ nhưng tôi cảm thấy dường như họ và tôi đều là những người thân của nhau.
Một ngày nọ, tôi để ý đến một nấm mộ nằm ngay sau mộ mẹ tôi. Nó nằm khiêm nhường giữa hàng trăm ngôi mộ bia vững chãi ở xung quanh. Và chính sự đơn sơ của nó đã khiến tôi chú ý. Cỏ và hoa mắc cỡ ( hoa trinh nữ) phủ kín  cả ngôi mộ đến độ nhìn không thể thấy được gì Và vật trang hoàng duy nhất trên mộ là một tấm mộ bia làm bằng gỗ mộc đơn sơ , với những hàng chữ được khắc lọt tõm vào trong thân bản gỗ ghi tên một người phụ nữ đã hưởng dương 22 tuổi. Mỗi lần đi ngang ngôi mộ này, tôi lại mường tượng đến những câu chuyện khác về người phụ nữ mất sớm ấy.

Một lần , tôi thấy một người đàn ông lớn tuổi vừa rời ngôi mộ này. Tôi đoán rằng ông ấy đến thăm mộ vợ mình. Vào ngày lễ tảo mộ trong dịp xuân năm 1994, trong khi lo nhang đèn, bánh mứt cúng phần mộ của ba me ïtôi, tôi bắt gặp người đàn ông ấy đang chăm sóc ngôi mộ, tôi đã bắt chuyện tự nhiên với ông, hỏi ông về lai lịch ngôi mộ. Và đây là câu chuyện của ông: " Đó là ngôi mộ của mẹ tôi bà mất vì viêm phổi vào năm 1912, khi còn rất trẻ. Lúc đó tôi chỉ mới được một tuổi rưỡi. Thật sự tôi không còn nhớ được khuôn mặt của bà . Chính tôi đã làm cho ba tấm bia gỗ và hàng chữ này. Ngoài ra chẳng ai đến thăm ngôi mộ này, bởi tôi là con một. Rồi cha tôi kết hôn một lần nữa. Mẹ kế tôi chỉ chăm lo cho những đứa con ruột của bà. Tôi luôn đến đây thăm mẹ tôi, dù vui hay buồn. Sau đó, cuộc sống đưa tôi phiêu bạt nhiều nơi, nhưng tôi không bao giờ quên ngôi mộ này. Đối với tôi, nó là một mái ấm gia đình, là “căn nhà" nơi tôi trở về sau những chuyến đi xa. 
" Nhiều năm trôi qua, việc thăm viếng hàng ngày trở nên khó khăn đối với tôi. Thế nhưng, chừng nào chân tôi vẫn còn đi được thì mỗi năm tôi vẫn sẽ đến thăm mẹ tôi ít nhất hai lần. Năm nay tôi đã 80 tuổi, không biết tôi sẽ còn tiếp tục điều này thêm bao lâu nữa".

Tôi lặng người ngồi nghe ông kể, hai mắt tôi nhòa lệ khi tôi chợt nhận ra rằng mình chưa bao giờ chứng kiến một tình yêu vô bờ bến đến dường  ấy. Tình cảm của tôi còn nhẹ nhàng hơn rất nhiều so với ông ấy bởi vì bất kỳ lúc nào tôi cũng có thể tìm đến được những kỷ niệm xưa của cha mẹ tôi; hay xem lại những tấm hình vui buồn thuở trước- đã từng gắn liền tôi với cha mẹ. Còn người đàn ông chân tình này liệu có được một kỷ niệmnào để ấp ủ? Có chăng chỉ là một tấm hình mờ nhạt của mẹ ông ngày trước. Hẳn có một mối dây liên hệ vô hình nào đó rất mạnh mẽ mới khiến ông lui tới viếng thăm ngôi mộ của người phụ nữ xấu số kia- người đã rời bỏ ông quá sớm đến nỗi ông chưa kịp hưởng được chút tình mẹ thiêng liêng, mà thay vào đó là một cảm giác thiếu vắng vô tận, day dứt mãi khôn nguôi.
Tôi vô cùng xúc động biết rằng mình vừa được ban cho một " món quà tuyệt diệu" . Tôi đã chứng kiến một tấm lòng tận tụy và tình cảm thiêng liêng bền vững, đã gắn bó một người đàn ông bình thường có trái tim cao cả với người mẹ quá cố của ông và tôi quyết định sẽ chăm sóc cho cả ngôi mộ ấy những khi đến thăm mộ cha mẹ tôi.
Tôi đã làm việc này suốt khoảng thời gian khi tôi còn ở Việt Nam. Bây giờ , đã hơn 14  năm  sống nơi xứ người xa xôi, tôi đã không còn dịp chăm sóc phần mộ của ba mẹ tôi cũng như của người đàn bà quá cố kia. Đôi lúc, thoáng chợt nhớ từng đám cỏ và hoa mắc cở phủ đầy  trên ngôi mộ người đàn bà nọ và những tấm bia trắng với những dòng chữ ghi lại ngày chết trên hai phần mộ của ba mẹ tôi , tôi cảm thấy xót xa, nhất là mỗi lần khi xuân sắp đến. Tôi  ước mong  có lần nào được trở lại thăm xứ sở trong tự do, để tôi được tự nguyện làm những gì theo ước muốn của mình. Tôi được chăm sóc lại từng những ngôi mộ của người thân để bù lại những khoảng thời gian chia xa trống vắng.

 HÀ ĐÌNH HUY

VAI TRÒ CUẢ BÁO CHÍ TRONG DÒNG SINH MỆNH CỦA DÂN TỘC
DUY VĂN

Trong xã hội Việt Nam, giới truyền thông báo chí được xem như là một thành phần thượng lưu, được một số người biết đến nể trọng, vì có ít nhiều tiếng tăm. Nói cách khác, họ được xếp hạng như những thành phần có trình độ, dù trên thực tế nhiều khi không hoàn toàn đúng như người ta nghỉ bởi ít nhiều việc làm cuả một số người trong giới cầm bút chưa tỉnh táo để cân nhắc, xác định vai trò cuả chính họ để sẳn sàng hầu hoà cùng trong dòng sinh mệnh cuả dân tộc. 
Trước năm 1975 Việt Nam ta, có hai hệ thống báo chí cho 2 miền. miền Bắc báo chí theo hệ Xã Hội Chủ Nghiã, miền Nam báo chí theo hệ thống Tự Do, Dân Chủ. 
Tại miền Nam,báo chí có đủ mọi quyền ngôn luận, và được tự do hành nghề công khai theo qui định cuả luật báo chí do chính phủ ban hành. Người làm báo, dù muốn hay không họ đương nhiên hưởng được những quyền căn bản, tương đối dễ chịu đủ bảo đảm cho nghề nghiệp làm báo cuả họ. Mặc dù trong một đất nước đang  có chiến tranh, đáng lẽ ra mọi sự ưu tiên loan truyền tin tức, đều phải được tập trung để phục vụ cho công cuộc chiến đấu chống kẻ thù. Nhưng hệ thống báo chí miền Nam Việt Nam trước đây không theo một định hướng như vậy. Cho nên không kết hợp được sức mạnh tổng hợp cho việc tuyên truyền giáo dục quần chúng và hướng dẫn quần chúng đến mục đích có hiệu quả. Những nhà làm báo lợi dụng tính dân chủ tự do, đã đi quá xa giới hạn cuả một nhà báo, dùng phương tiện báo chí sẳn có trong tay, đưa những nguồn tin thất thiệt, hoặc đánh phá ngược lại chế độ, gây lủng đoạn chính trị và tạo nên sự bất ổn triền miên trong xã hội,góp phần thêm cho sự mất đi ý nghiã lý tưởng cuả cuộc chiến đấu. Thái độ vong thân, thờ ơ, hoặc cố tình phá hoại cuả người làm báo từ mấy thế hệ qua tại miền Nam trứơc đây đã đóng góp vào kết quả tang thương cuả đất nước. 
Tại miền Bắc báo chí truyền thông theo cơ chế tập trung hướng dẫn. Hầu hết báo chí cũng như truyền thông đều thảy phục vụ cho công tác đấu tranh, nên báo chí miền Bắc được xem như là một công cụ thiết thực góp phần vào dòng sinh mệnh cuả chế độ, giúp cho chế độ tồn tại và phát triển. Người làm báo chính thống dưới xã hội miền Bắc ít nhiều họ hiểu thế nào là bổn phận cuả người cầm bút, họ viết cho ai và viết thế nào, để khỏi phải bị xem như là một kẻ phá họai chế độ. Mỗi người làm báo, họ đều tự nhận như là một chiến sĩ, và mỗi ngòi bút như là một vũ khí bắn thẳng vào mục tiêu góp phần cho sự chiến thắng. Dù rằng trong mỹ từ “tự nhận”có lắm oan khúc. 
Người cộng sản thắng chúng ta vì họ biết sử dụng đội ngũ báo chí miền Bắc cho chủ trương cuả họ. Họ đã thành công vì đã động viên được một cuộc đấu tranh toàn diện, nhịp nhàng ăn khớp và yểm trợ lẫn nhau. 
Ba mươi hai năm  để mất miền Nam đến ngày nay, báo chí hải ngoại cuả những người Việt Quốc Gia tị nạn vẫn lâm vào tình trạng giống như báo chí miền Nam thuở nào!. Trên lý thuyết và quan điểm thì người làm báo nào nơi hải ngoại nầy cũng chống cộng, cũng thương nước, thương dân. Chủ báo hay nhà báo nào cũng mong mỏi có ngày cùng đồng bào trở về giải thể chế độ độc tài Cộng sản đem lại tự do cho dân tộc. Nghe qua đồng bào tị nạn phấn khởi, mừng thầm rằng hôm nay trong công cuộc chiến đấu sẽ không phải lẽ loi, vì có đội ngũ báo chí hải ngoại đã ý thức trách nhiệm cùng nhau đoàn kết với đồng bào chiến đấu đưa mục tiêu đến thắng lợi. Nhưng thực tế thật quá phủ phàng, ba mươi mấy năm qua người Việt sống lưu vong vẫn sống trong nỗi khoắc khoải và vô vọng, lắm lúc tuỉ hổ nữa là khác, vì giới báo chí Việt hải ngoại đã đi ngược lại nguyện vọng cuả đồng bào Việt Nam tị nạn. Họ tự phản lại với hoài bảo cuả chính họ, thay vì họ cùng nhau đoàn kết thành một khối và cùng một tâm huyết tạo thành một sức mạnh phù đổng phá thành trì cộng sản, họ không làm như vậy. Ngược lại họ quay ra ganh tị hiềm khích, chống bán lẫn nhau, đôi khi thoá mạ đời tư lẫn nhau, đồng bào độc giả xem qua rất làxấu hổ và đau lòng. Thế mà họ cảm thấy hăng say cứ đấu đánh nhau mãi không mệt mõi. Họ quên đi mất thân phận cuả họ hiện giờ là một “kẻ lưu vong”, mà chính cộng sản đã gây ra cho bản thân và gia đình họ. Hơn thế nữa, có những nhà báo trong hàng ngũ lưu vong, vì đời sống khó khăn, vì thiếu ý thức …vẫn chạy theo cộng sản để kiếm miếng đỉnh chung mưu cầu danh lợi. Nhiều người đã ve vuốt cộng sản hoặc đánh tiếng mong làm con bài cho việt cộng. Họ dựa vào nền tự do của xứ sở nơi họ cư ngự vàquan niệm rằng :tự do là muốn viết gì thì viết miễn là không vi phạm luật pháp mà thôi, nên có một số nhà báo đã lợi dụng điểm ưu việt này viết những bài có tính bất lợi cho công cuộc tranh đấu của cộng đồng tị nạn . Cũng có những nhà báo chủ trương và nói :  Làm báo là phải trung thực  nên cần phải đưa tin hai chiều, để người đọc nắm vững sự kiện hơn, thế làcó một số nhà báo đã thực hiện phương thức này, để chứng tỏ ( báo của mình trung thực) . Nhưng thực tế  những kiểu cách loại này áp dụng trong một môi trường có tính  tranh đấu hiện thực như cộng đồng tị nan Việt Nam ở hải ngoại thì không hữu ích chút nào, nếu không muốn nói lắm lúc tạo thêm nhiều hiềm khích , chia rẽ, bởi những bài phỏng vấn hay bài viết có tính hai chiều, mà hệ lụy khiến hàng ngũ quốc gia một ngày thêm xào xáo  hơn. Chứng minh thực tế hiện nay là  ít ai dám tin ai, và đa số người Việt tại hải ngoại vẫn chẵng ưa gì cộng sản, còn ít ý chí đấu tranh, dù có muốn tìm một tổ chức để gia nhập hay hợp tác cũng không còn biết tin tưởng vào ai?. 
Vậy hiện tượng khủng hoảng niềm tin đó bắt nguồn từ đâu?. Chúng ta phải thành thật nhìn nhận rằng từ sự vị kỷ,thiếu thực chất, lường đảo,thiếu lòng trung thành và sự vô ý thức cuả giới đưa tin. 
Sau kinh nghiệm đau thương để mất miền Nam Tự ødo, mà giới báo chí miền Nam cũng có phần trách nhiệm. Thiết tưởng người làm báo nơi hải ngoại không những không được quyền đứng ngoài cuộc đấu tranh, mà ngược lại họ còn phải hướng dẫn, nhắc nhở quần chúng về tai họa mà chính họ cũng như đồng bào đã và đang trải qua, bởi một người làm báo đích thực là người có tâm hồn nhạy bén,cảm nhận trước và đầy đủ niềm vui, nổi buồn cũng như những tai ương cuả xã hội, để từ đấy báo trứơc và truyền đạt ý nghỉ cuả mình cho người khác.
Làm báo là phải trung thực với hoàn cảnh cuả độc giả, cần lưu tâm đến nỗi xót xa cuả đồng bào, đồng hương .Người làm báo y như một nhà làm cách mạng ,cần có tâm hồn rộng lượng ,và một ý thức bênh vực lẽ phải ,nhất là cho sự sống còn cuả đồng bào, dân tộc .
Một thí dụ điển hình cho ý nghĩa  trên là gần đây trong làng báo chí hải ngoại đang bị một thế lực xâm thực ( sự xâm thực với nhiều hình thức )  vàsự xâm thực này có ảnh hưởng đến sự sinh tồn cuả nền báo chí Việt Nam tại hải ngoại, và tiếng nói đấu tranh cuả cộng đồng ,cũng như giá trị thế đứng cuả một dân tộc .Đó là có một số tờ báo vì lý do nào đóù, bằng hình thức này hoặc hình thức khác đã công khai  tuyên truyền đường hướng, kế họach cho cộng sản như trong thời gian vừa qua. Những tờ báo này không những đã không đem lợi ích cho những đồng hương tị nạn ,trái lại đã không ít nhiều tạo những phiền toái cho cộng đồng ,bởi những bài viết miệt thị người tị nạn , và tỏ ra thân thiện với cộng sản Việt Nam .
Thế nhưng ,thời gian qua hầu hết các báo Việt ta ở hải ngoại ,đều gần như  im hơi lặng tiếng ,không có một phản ứng ,nếu có chỉ tượng trưng qua loa,lẻ tẻ,không kết hợp được sức mạnh tổng hợp để tạo phản ứng, hưởng ứng đồng loạt .Có một số nhà báo còn cho rằng công việc lên tiếng phản đối việc miệt thị đồng hương tị nạn , hay cố ý làm nhục cờ quốc gia là biểu tượng của người Việt tị nạn cuả tờ báo A hay B  là công việc cuả Ban Đại Diện Cộng Đồng ,các nhà báo ta không có trách nhiệm .Còn một số nhà báo thì dĩ hoà hơn ,cho rằng không nên đụng chạm với  “ đồng nghiệp” làm gì!, Cứ hãy để dành thời giờ tu tỉnh .Trên thực tế số người này họ có tu tỉnh đâu! Họ đang dành rất nhiều thời giờ cho một trận chiến “vạch lá tìm sâu” , moi móc đánh phá đời tư lẫn nhau của đồng hương để mong tìm thoả lòng ganh tị cuả họ,mà hậu quả là làm tan nát đi cộng đồng tị nạn vốn đã quá nhiều đau khổ. 
Tóm lại, nhìn trang sử báo chí thời kỳ qua cuả miền Nam và hiện nay ở hải ngoại,những tưởng cuộc sống vong thân tha hoá hiện nay cần phải chấm dứt,và chúng ta sẽ cần phải có một hướng nhìn về dân tộc ngay bây giờ để lớp nhà báo trẻ hậu sinh không tuỉ nhục về thế hệ chúng ta.
Nổ lực trên phải được bắt đầu bằng sự thức tỉnh cuả hàng ngũ đấu tranh báo chí quốc gia nơi hải ngọai. Dĩ nhiên với tình trạng như hiện nay không thể nào một sớm một chiều mà có được. Chúng ta cần có thái độ thông cảm,tha thứ cho nhau hơn trên những thói ganh tị thường tình ,và tâm hồn thì luôn hoà cùng trong dòng sinh mệnh cuả dân tộc .Mọi hành động thờ ơ hoặc vô trách nhiệm với đồng bào ,hay cố ý làm lũng đoạn tình đoàn kết cuả đồng hương tị nạn đều đắc tội với quê hương dân tộc. 

DUY VĂN
TẾT TRUNG THU VÀ CÁC PHONG TỤC

  DUY VĂN

Có nhiều giả thiết nói về nguồn gốc Tết Trung Thu,nhưng theo lịch pháp cổ đại Trung Hoa thì tháng 8 âm lịch “giữa mùa thu” nên gọi là trọng.Chữ trọng có nghĩa là “đang ở giữa”,tức chính trung. Mà ngày 15 tháng 8 là ở giữa trọng thu,vì thế gọi là Tiết Trung Thu,hoặc Trọng Thu Tiết về sau này dân gian thường gọi là Tết Trung Thu. Trong ngày này,ánh trăng sáng hơn ngày thường,vì vậy có tên khác là ngày nguyệt tịch. Đêm Trung thu trăng sáng trên không,ánh sáng rực rỡ bao trùm khắp mặt đất,mọi người ngắm nhìn trăng sáng tròn vành vạnh như chiếc mâm ngọc, tự nhiên liên tưởng đến sự đoàn tụ của mọi người trong gia đình.Những người đang ở quê nhà nhìn trăng sáng gởi gấm tình cảm nhớ nhung của mình đối với người thân ở xa.Do đó người ta cũng thườnggợi Tết Trung Thu là Tết Đoàn Viên hay Đoàn Viên Tiết.
   Ơû Trung Hoa thời cổ ,trong dân gian mỗi lần đến tháng 8 Tết Trung Thu là có phong tục tế trăng,bái trăng và thưởng nguyệt.Theo ghi chép của sách xưa sử cũ thì đời Đường (618-907) sau lễ cúng bái thần trăng còn có tục lệ ngắm trăng thưởng nguyệt,ăn bánh đoàn viên,uống rượu hoa quế ,ngâm thơ ,viết đối,mừng hạnh phúc ,tỏ niềm hân hoan vui sướng được đoàn viên.
Về nguồn gốc Tết Trung Thu, một số nhà nghiên cứu cho rằng nó bắt nguồn từ việc tế lễ Thần Nông,nhưng trong dân gian thì nguồn gốc ngày Tết này giàu màu sắc văn hóa Đông Phương sâu đậm. Câu chuyện “ Hằng Nga bay lên mặt Trăng”ai nấy đều biết tương truyền rằng Hậu nghệ là một thiên thần tài giỏi có người vợ Tiên Nữ tên là Hằng Nga(còn gọi làThường Nga) khi Hậu Nghệ không có ở nhà ,Hằng Nga lấy trộm thuốc trường sinh bất tử mà Hậu Nghệ lấy được của Tây Vương Mẫu ở Côn Lôn để uống “thuốc thần thần diệu.Hằng Nga cảm thấy mình lâng lâng nhẹ dần chân rời khỏi đất bất giác bay ra ngoài cửa sổ .Bên ngoài đêm đã xuống da trời xanh biếc ,đồng nội tắng xóa trên cao trăng tròn vằng vặc bốn phương lấp lánh ánh sao.Hằng Nga bay mãi ,bay mãi lên cao…” Câu chuyện được ghi chép sớm nhất trong sách Qui Tàng ở đầu đời chiến quốc.Từ đó về sau đời đời truyền tụng ngày Hằng Nga bay lên mặt trăngvào giữa mùa thu tức ngày 15 tháng 8 âm lịch. Đó là ngày Tết Trung Thu .
   Từ xưa đến nay nhân gian đã được hình tượng Hằng Nga và ánh trăng sáng đẹpđể kết họp với nhau người đời sau lễ bái trăng để gởi gấm tâm nguyện “ hoa đẹp trăng tròn và con người trường tho”ï 
  Theo sách xưa các vua chúa cổ đại trước thời Tần –Hán qui định mùa xuân thì tế thần mặt trời.Sách lễ ký ghi: “thiên tử buổi sáng mùa xuân thì gần ,mặt trời,đêm mùa thu thì gần mặt trăng”. Buổi sáng thì gọi là “triệu” ,đêm gọi là “tịch”,thời Tần –Hán rất coi trọng phong tục này. Đến đời Đường việc tế trăng được mọi người coi trọng. Thời Minh –Thanh (từ thế kỷ 13 đến đầu thế kỷ 20) ngyuệt đàn ở Bắc Kinh là nơi để cho Hoàng đế bái trăng. Thời Từ Hy Thái Hậu của nhà Thanh,mỗi lần đến Tết Trung Thu thì ở Di Hòa Viên (Bắc Kinh) tổ chức lễ bái trăng rất linh đình,trọng thể .Bánh dùng để bái trăng rất to,trên mặt bánh có hình cung quãng hằng,cây quế mộc ,Hằng Nga . Sau khi lễ bái trăng xong,bánh và hoa được đem phân phát cho các phi tần ,thái giám và thị nữ thân cận.
 Trong dân gian ,phong tục tế trăng Trung Thu cũng rất đa dạng.Đúng giờ ngắm trăng vui Tết tất cả phụ nữ đều trở về nhà để dự buổi đoàn viên.. Mọi người trong nhà “uống rượu đoàn viên” ăn bánh đoàn viên ( đoàn bính viên) và ăn cơm ngắm trăng (thưởng nguyệt phạn).Bánh đoàn viên tức là bánh Trung Thu ngày nay. Việc cử lễ ngắm trăng thì thời Ngụy –Tấn đã có ,đến ngày nay các tửu lầu đều được trang hoàng rực rỡ . Ngoài việc tế trăng ,ngắm trăngở vùng tỉnh An Huy thiếu niên ,nhiđồng còn tổ chức “múa rồng cổ” (vũ thảo long).Ở nông thôn tỉnh Quảng Đông có phong tục tổ chức đêm hoa đăng,dùng thủy tinh giấy bóng,giấy màu để làm nên hình dáng muôn thú ,cá ,tôm và thắp đèn cầy bên trong rất rực rỡ . Bên ngoài đèn nổi bật dòng chữ “ chúc mừng Trung Thu”( khánh chúc Trung Thu) và hoa đẹp hơn trăng tròn (hoa hảo nguyệt viên). Aên bánh Trung Thu là nội dung quan trọng của Tết Trung Thu. Bánh Trung Thu thời xưa làm rất nhỏ gọi là “tiểu bính” hoặc “ cam bính” ( bánh ngọt) vốn là những lễ vật dâng lên thần mặt trăng. Theo ghi chép của sách sử ,thì kinh thành Trường An đời Đường có tiệm bánh Trung Thu, đến đời Tống việc làm bánh Trung thu rất thịnh hành.
  Ở vùng tỉnh Quảng Đông,ngày 16 tháng 8 tổ chức nghi thức đuổi theo trăng (truy nguyệt). Ở vùng duyên hải tỉnh Quảng Đông,Phúc Kiến, Hải nam và nhất là Hong Kong,tối ngày 16 tháng 8, người già ,trẻ em thường ra bãi biển uống rượu,ngắm trăng để cùng nhau đuổi theo trăng. Ở Tô Châu ngày 17 tháng 8 có phong tục “ thạch hồ quán nguyệt” ( nhìn trăng thạch hồ)   
           
                   DUY VĂN
( Sưu tầm theo sách cổ đại Trung Hoa)

NHỮNG KẼ SĂN HÌNH LÉN

DUY VĂN

Đạo diễn Federico Fellini là ông tổ của nghề săn hình lén .Chính ông đã nghĩ ra một cái tên ngộ nghĩnh cho cái nghề này là “Paparazzi” trong lúc đi săn hình Anita Ekberg trên sàn qauy bộ phim “ Dolce Vita” (yêu cuồng sống vội) .Thực tế Paparazzi là sự kết họp của 2 từ ngữ “ Papatacci”: một loại muỗi nhỏ nhưng rất hung hản và “Razzi”: ánh chớp .
Hiện nay trên toàn thế giới không có quá 50  Paparazzi. Với giới này,họ là những hung thần chuyên gieo rắc tai ương cho những giới khác,họ là những James Bond trong lãnh vực nhiếp ảnh. Nạn nhân của họ là những ngôi sao màn bạc ,sân khấu,hoặc những nhà chánh trị và những nhà quí tộc. Họ có thể làm tan vỡ hạnh phúc của một lứa đôi nếu như một trong những hôn phối lọt vào ống kính tầm xa của họ đúng vào lúc người ấy có hành vi xấu ,như trường hợp của công nương Dianavới người tình kỵ sĩ,của Hugh Grant trên đại lộ hoàng hôn.Họ có thể làm tiêu ma danh tiếng của một người nào đó ,hoặc biến người ấy trở thành trò cười,với những tấm hình chụp đúng lúc.
Vào năm 1987,sau một tuần theo dõi công nương Diana .Jacson Fraser đã chụp được một bức hình độc đáo khi Diana đang ôm hôn một người đàn ông mà không phải là Thái tử Charles .Khi phát giác ra mình bị chụp lén bởi qua ánh đèn flash lóe lên ,bà ta đã chạy đến phía Jacson Fraser khóc nức nở ,nước mắt dàn dụa trên đôi má và khẩn khoản xin Jacson cho lại cuốn phim.. Jacson Fraser đã mũi lòng trước những giọt lệ của công nương nên đã lấy cuộn phim trao cho bà. Cầm lấy cuộn phim Diana không một lời cám ơn,lên xe,đóng mạnh cửa rồi phóng vụt đi .Jacson Fraser tức mình ,sau này bèn tiết lộ tất cả những thông tin về Diana và người tình của bà cho tờ News of the world. Thế là từ một thợ săn hình ông đã trở thành con mồi của các fan ( cận vệ) của Diana đã truy lùng ông ráo riết đến đổi ông phải trốn ra nước ngoài không dám về nước Anh nữa! Còn Bruce Taylor đã thực hiện một kỳ công vô cùng ngoạn mục đáng giá trị . Hai ngày liền Bruce nấp ở trên cây để theo dõi biết công nương Diana hàng ngày vẫn đến tập tại một phòng thể dục công cộng,nơi ông ta đã quen thuộc mọi ngõ ngách, ông ta bèn đục một lổ ở trần nhà rồi nấp trên đó ,ông còn cẩn thận bọc chiếc leica vào một mảnh vãi để cho âm thanh không thoát ra được mỗi khi bấm máy. Bruce đã chụp một loạt các kiểu tập của Diana và đã bán cho tờ Daily Mirror với giá 125.000 bảng Anh .
      Sau cái chết do tai nạn xe hơi của công nương Diana với người tình tỉ phú Ai cập trong một đường hầm ở nước Pháp cũng có một số dư luận cho rằng vì trốn tránh sự theo dõi của  một nhóm Paparazzi muốn chụp hình bà nên xe chở bà và người tình của bà đã lao vào thành vách của đường hầm . Thái tử cũng không thoát khỏi ống kính của những kẻ săn hình lén khi ông đi nghĩ mát ở Lubéron. Sáu tay Paparazzi đã rình rập chung quanh biệt thự và Charles đã biết được nên dọn đi nơi khác,thế nhưng cũng không khỏi con mắt dòm ngó của những tên hung thần này.Đã có 8 tên Paparazzi đã chụp được hình ông mặc quần “cộc” đi lại trong phòng. Các Paparazzi cho rằng tấm hình như vậy đối với một vị Thái tử nước Anh chưa có giá trị mấy nên một tên đã trở lại chổ ẩn nấp và cuối cùng sự kiên nhẩn của ông ta đã được đền bù . Sau nhiều giờ ông ta chờ đợi đã chụp được hình của Thái tử đang thay quần áo gần bên cạnh cửa sổ đang hé mở.
Vào năm 1981 ,Đức Giáo Hoàng cũng đã bị chụp hình lénđang khi bơi trong hồ bơi của ngài ở vườn Castelgandolfo. Tay Paparazzi là một người Ý tên là Andriano bartolini,sau nhiều đêm nằm co quắp trong một cái tủ ngủ ,chịu đựng muỗi cắn và sâu bọ bò lên người,chưa kể là đã phải vượt qua những bức tường cao 5 mét với hàng chục camera hoạt động ngày đêm và những đội cảnh sát tuần tiểu khắp nơi.
Trong hàng ngũ của những kẻ săn hình lén,các cuộc gặp gở của họ cũng rất hiếm hoi. Như những con chim trời họ bay đi mỗi người một nơi để săn lùng các con mồi . Họ không thể nào làm cái nghề nầy nếu không có một mạng lưới thông tín viên được trả lương hoặc tình nguyện. Thông thường thì mọi việc đều bị “bật mí” do miệng lưỡi những người thân cận của các con mồi ,vì hờn dổi, vì chứng tỏ rằng mình là người “biết quá nhiều” . Ngoài ra một số nhân viên du lịch của phi trường hay của hãng hàng khôngđã làm chỉ điểm cho họ. Với cái nghề săn hình lén này ,ngoài máy ,móc ra họ còn phải sử dụng đôi tai nữa. Các nhà nhiếp ảnh có nhiệm vụ theo dõi đám cưới của công chúa Caroline( Manaco) với Stefano Casigarhi không bao giờ quên chặn đường dừng chân của họ tại một quán ăn ở Cannes . Trong số họ chả có ai khám phá ra được nơi hưởng tuần trăng mật của đôi vợ chồng vương giả ấy . May sao,hoàng thân Polignac ,chú của công chúa Caroline chợt tới và ngồi một bàn kế cận .Oâng ta thích chí nói bô bô “ phen này các Paparazzi chắc phải bó tay vì không biết Caroline và stefano hiện ở đâu? Chúng nó bay sang Floride đâu có ở âu châu mà tìm” . Bắt được nguồn tin ấy họ vội vàng lên đường. Jo và Abert là 2 nhiếp ảnh gia của Pháp cũng là hai tay Paparazzi cừ khôi . Họ đã mướn một chiếc tàu đánh cá để bám sát cặp vương giả này,họ phải ngâm mình dưới nưiớc trong 2 ngày cách bãi biển này của biệt thự 50 mét. Sau đó họ đã chụp được những bức hình toàn vẹn nguyên thủy của cặp vợ chồng này,những bức ảnh hấp dẫn của họ đã được đăng trên bìa của 34 tạp chí trên thế giới.
Angeli một Paparazzi 50 tuổi nói rằng: “ Sống với nghề này ,chúng tôi phải luôn di chuyễn không thể nào ngồi một chổ để há miệng chờ con mồi tới ,chúng tôi còn phải tập luyện như một người lính trong quân trường ,nghĩa là phải biết trườn, bò , trượt tuyết…Có một hôm tôi dạy một đồng nghiệp trượt tuyết và tình cờ đã chụp được những tấm ảnh đẹp nhất trong đời nhiếp ảnh của tôi” Ông cũng là người thường hay theo dõi Thái tử Charles trên những đường băng ở Kloster ( Thụy sĩ). Là một nhà trượt tuyết cừ khôi Charles đi tìm một cảm giác mạnhvà Angeli với ống kính trong tay truy lùng dấu vết của Charles trong đám người đang lướt vùn vụt trên tuyết . Bất chợt ông chú ý một đám đông đang đứng chung quanh một người đang nằm bất động,rồi một người đàn ông dường như đang khóc và một chiếc trực thăng đáp xuống…Lập tức Angeli lấy đồ nghề ra chĩa ống kính vào mục tiêu .Tách, tách. Ôâng bấm lia lịa khuôn mặt Thái tử Charles chan hòa nước mắt. Ông khóc thương một người bạn thiếu tá Hugh Windsay ,bị chết trong tai nạn tuyết lỡ. Bức ảnh ấy đem lại cho Angeli 2 triệu Franc.
Trong nghề săn hình lén cũng đều có những vui buồn ,khi họ có được những bức hình như họ mong muốn thì trạng thái tâm hồn của họ phấn khởi,vì họ đã hoàn thành một kỳ công nghệ thuật và lợi tức sinh hoạt của họ cũng khả quan,nhưng trong nhóm họ cũng không thiếu gì người bị đánh vỡ mặt sưng mày hay bị đập nát máy ảnh.
PhilRamey bắt gặp Micheal Jacson trong tình trạng thê thảm liền giơ máy lên …….
 Micheal vội chạy trốn vào trong toilet vớ được cây gậy bèn quay ra đập Ramey túi bụi .Rino Barilleri cũng bị nữ diễn viên Ara Gardner đá một phát vào bụng.Còn Claudia Schiffer đã hất một xô nước đá vào mặt một Paparazzi tại một tiệm ăn ở Popolo ở Ý vào mùa thu năm ngoái.
Vì được mệnh danh là những hung thần gieo rắc tai ương cho giới khác ,cho nên trong nghề Paparazzi không phải không có sự bẩn thỉu. Chẳng hạn như tờ Hola của Tây Ban Nha đã mua những phóng sự bằng hình của các Paparazzi với một giá rất đắt kinh khủng rồi lưu trữ chứ không đăng. Họ sử dụng những hình ảnh giật gân để làm áp lực với các nạn nhân không để cho họ phỏng vấn.Nhưng tờ Hola cũng bị đồng nghiệp chơi một vố đau .Tờ Sun cho người lẻn vào nhà in của tờ Hola chụp lại âm bản những bức ảnh của nữ công tước York đang giao du thân mật với ông cố vấn tài chánhcủa bà.
Anh chàng Paparazzi của tờ Hola muốn ẩn danh để còn làm ăn về dài về lâu nên không dám kiện tờ Sun về tội ăn cắp tài liệu .Cho nên trong nghề săn hình lén cũng có cái vinh và cái nhục đi đôi với nhau
DUY VĂN 
(Theo báo nước ngoài)

ĐỜI THẬT CỦA NHỮNG NỮ ĐIỆP VIÊN

  DUY VĂN

Người ta thường nói, phái đẹp có những lời lẽ ngon ngọt khiến người khác phải thố lộ những điều bí mật. Đó  những câu dí dành cho những bậc nữ lưu dùng nhan sắc trời cho để phục vụ đất nước của họ, hoặc làm một nhiệm vụ quan trọng mà tổ chức giao phó. Khi đã xâm nhập được vào trong tổ chức của đối phương, và khi tổ chức của đối phương đã có sự tin tưởng. Người phụ nữ thường dùng những lời nói để chinh phục lòng sắc đá của các vị vương đế của thời xưa như Tây Thi đã làm mềm Ngô Phù Sai…Nhưng thời nay các JamBond không chỉ thuần dùng lời nói . Phụ nữ vẫn tiếp tục tham gia những nhiệm vụ đặc biệt , như Dominique Prieur trong vụ đánh đắm chiếc tàu của tổ chức Greenpeace, mà còn mang những nét mới:  Sự xuất hiện của những phụ nữ cầm quyền trong ngành tình báo và phản gián.
Năm 1995 Christine Wiley trở thành phụ tá giám đốc cơ quan tình báo Mỹ CIA, đảm nhận công tác nhân sự. Tại Nga, từ năm 1991,nữ tướng Smirnova phụ trách cơ sở mới về ngăn chận thông tin, dưới một cái tên rất hiền lành: Cơ quan liên bang về tin tức quan hệ ( Faspii) . Ở Trung Quốc có một nữ chuyên viên về hoạt động bí mật, Li Shuzheng, thuộc Bộ Quan Hệ Quốc Tế, một mắc xích của nền tình báo chính trị. Tại tây Aâu các nữ điệp viên đã vươn lên những cấp bậc cao hơn. Ở Đan Mạch, năm 1988,Hanne Bech Hansen đã là nhà lãnh đạo phụ nữ đầu tiên của ngành mật vụ thế giới. Ở tuổi 49 bà nắm quyền điều hành Poltiets Efterretnings Tjeneste ( PET), một ban ít được biết đến, nhưng chính họ đã giúp người Anh đón nhận một kẻ bỏ hàng ngũ lớn nhất của KGB, Oleg Gordievski,và họ đã phá vỡ hệ thống gián điệp ở Trung Đông. Tốt nghiệp đại học Luật, kết hôn với một phẫu thuật gia, Hanne bước vào ngành tư pháp, sau đó là phụ tá cảnh sát trưởng Copenhague, rồi chủ nhân của PET. Tại Anh một nhà nữ tiên phong sắp sửa về hưu : Stella Rimington, trưởng ban MI 5. Năm 1992, Stella được đề cử làm trưởng cơ quan phản gián này sau 25 năm phục vụ tại đây. Bà là vợ một viên chức ngân khố , có hai con gái. Cùng với sự kết thúc của chiến tranh lạnh,bà phải thay đổi cơ cấu của ban, cho nghỉ việc 10% nhân viên. Sự kiện để lại dấu ấn trong sự nghiệp của bà là cuộc chiến tranh bí mật chống quân đội cộng hòa Ireland ( IRA) . Được bổ nhiệm ở Belfast trong những năm 70, sau đó bà phụ trách hoạt động chống khủng bố F 3. MI 5 tiếp tục giám sát IRA, e rằng những thành viên đang "ngủ yên" ấychỉ chờ cơ hội khơi dậy hận thù. Đối thủ mới của ngành tình báo Anh là một hoạt động những tai ương: Những kẻ Hồi Giáo quá khích, những kẻ buôn lậu ma túy, mafia Nga và Châu  Á…Để đương đầu họ càng ngày càng tin tưởng vào phụ nữ MI 5, với 25% nhân viên là nữ, rất tự hào là cơ quan tình báo có đông nữ nhân viên nhất ở phương Tây. Ở Việt Nam, bà Thanh Thủy là một phụ nữ điều hành một Biệt Đội Tình Báo mang tên Thiên Nga. Trong những thập niên 70, khi nghe tới " Thiên Nga" thì phe đối phương ( Việt cộng) phải kinh hoàng khiếp vía, vì những công tác đặc biệt mà Biệt đội đãthực hiện. Hầu hết nhân viên trong Biệt Đội đều là phụ nữ trẻ.Bà Thanh Thủy, tốt nghiệp khóa I Biên Tập Viên và là người nữ  Thiếu tá đầu tiên của ngành CSQG,kết hôn với  Đại Uùy Long một sĩ quan võ bị  Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa,ho có hai con. Biệt đội của bà ngoài những công tác xâm nhập vào đơn vị đối phương,thu thập những tin tức tình báo, bẽ gãy những kế hoạch tấn công của kẻ thù,Biệt Đội còn có nhiệm vụ công tác nội chính: Bố trí các nữ điệp viên trong các đoàn thể, cá nhân tổ chức đối lập. Biệt Đội Thiên Nga do bà Thủy điều khiển đã làm rạng danh cho ngành tình báo Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam.
 Theo một nghiên cứu nội bộ, ngược với nam giới, phụ nữ có khả năng tiếp cận một vấn đề bằng nhiều cách. Họ dễ thích nghi hơn trong hoạt động bí mật và tự tin hơn trong những nhiệm vụ có nhiều sức ép về tâm lý. Hơn nữa, họ xem xét, đối chứng các tin tức thu được một cách hệ thống hơn: Một yếu tố quyết định để đi đến thành công. Các nữ điệp viên chỉ có một khuyết điểm: Quan tâm đến những tin tức thuộc" ngồi lê đôi mách" hơn là chiến thuật.
Khi bà Stella sắp sửa về hưu,những phụ nữ khác trong MI 5 mơ ước được kế tục bà. Nhưng chức vụ đầu đàn ấy về tay một phái khỏe viên phụ tá của Stella là Rimington, Stepher Lander. Cũng chẳng sao! Điều cấm kỵ đã được bôi xóa. Bàmargaret Ramsey đã xin giử chức vụ điều hành bộ phận tình báo ngoài nước MI 6.Margaret Ramsey đã từng chỉ huy một trạm thuộc MI 6 ở Stockholm,một chức vụ dứt khoát dành cho phụ nữ. Thật vậy , năm 1987,chính Ramsey, trưởng MI 6 ở Thụy Điển,là người đầu tiên phát hiện Eksund ,một chiếc tàu do IRA thuê chở hàng,chất đầy vũ khí của Libye. Rốt cuộc ,Eksund bị khám xét ngoài khơi Bretagne, nhờ những thông tin bổ sung củ cơ quan phản gián Pháp DGSE trao.
Tại DGSE, từ cuối năm 80, phụ nữ đã chỉ huy những nhiệm sở quan trọng: Washington, Bucarest, Bruxelles,Genève,Moscou hay Rio. Các bà đã tỏ ra xuất sắctại những nơi cần những nhà phân tíchsắc sảo hay các chuyên viên biết nhiều ngôn ngữ. Như bà Murat,phụ trách các quốc gia Đông Aâu dưới thời Pierre Marion. Sau đó,được bổ nhiệm ở Bucarest, bà đã tiên đoán sự tan rã của chế độRoumanie và vai trò của Gorbatchev trước khi ông này nắm quyền lãnh đạo đảng cộng sản Liên Xô. 
Văn phòng trực thuộc DGSE ở Ả Rập do " Claire" ( bí danh) chỉ huy, trước đó bà phụ trách quan hệ với báochí,rồi trở thành phụ tá giám đốc tình báo. Cũng vậy trong ban Châu Á" Agnès" được chú ý ví phẩm chất quan trọng các mối quan hệ sau công tác ở Hong Kong và Moscou. Còn " Josette" đồng điều hành bộ phận quản trị và tài chánh, sau khi phục vụ trong ngành bí mật. Nhưng như nhiều đồng nghiệp ở DGSE,bà đã chọn  vực tư nhân,có thu nhậpcao hơn.
Tin đồn về sự bổ nhiệm một phụ nữ vào chức vụ giám đốc Mossad ( cơ quan mật vụ Israel) gây tác động như một quả bom. Sự thăng chức ấy- còn cần được khẳng định- gây nhiều ngạc nhiên,vì chỉ có ít phụ nữ làm việc trong ngành này. Những nhân viên Ả Rập, được Israel tuyển dụng,từ chối làm việc dưới quyền một người thuộc phái yếu. Mossad muốn tỏ ra theo thời hay thật sự trọng dụng phụ nữ? Nhưng điều tin chắc rằng, người phụ nữ đã được chọn và đề bạt vào chức vụ trưởng cơ quan mật vụ Mossad, sẽ có những yếu tố hơn hẳn các đấng mày râu trong ngành hiện hữu.
Tóm lại dầu ở Aâu hay Á, ở Mỹ hay Trung Đông, các bậc nữ lưu trong ngành tình báo,phải có những đặc điểm cần thiết cho nghiệp vụ ,đồng thời  họ cũng có những " cái khiếu" nhất định mà các vị phụ nữ khác không có được. Họ không phải là một " thiên thần" ,họ có những cuộc sống bình thường như những người cùng phái họ . Tuy nhiên , họ có sự can đảm ,thông minh, … mà những cái đó duy chỉ họ mới có mà thôi.

         
                                                                                                       DUY VĂN
                                                                                              ( Theo báo nước ngoài)

CHẾT CHƯA PHẢI LÀ HẾT CHUYỆN!

                                                                                                                DUY VĂN

Từ lâu, người ta vẫn ngại- thậm chí sợ - nói về cái chết.Cái chết không phải đơn giản như thiên hạ nghĩ, và cũng chằng phải" chết là hết chuyện" đâu! Có cái chết nặng tợ Thái Sơn, và có cái chết nhẹ tựa lông hồng cơ mà. Môt số người cho rằng chết là một cái khổ, là giai đoạn cuối cùng của cái vòng " sinh lão bệnh tử". Có kẻ lại nghĩ" chết là sướng nhất, xuôi tay nhắm mắt còn biết gì đâu".Rất nhiều tôn giáo và triết thuyết vẫn cho rằng đầu thai và luân hồi là lẽ của vũ trụ. Ở đây ta không bàn đến điều đó, mà chỉ xem những gì con ngườiđã và đang làm đối với người chết. Nói cách khác, là tìm hiểu một số tập quánphong tục khắp năm châu, để thấy rằng " chết chưa phải là hết chuyện"!
 Rất nhiều dân tộc còn tin rằng: người chết có the å- và có quyền - lôi kéo người sống về cõi âm, có thể " rủ em đi với cả đoàn cho vui". Từ lòng tin đó, người sống đâm sợ người chết, dù cái tử thi chỉ nằm trơ đấy, không ngọ ngoạy gì nữa. Người ta còn tin rằng chết là một thứ bệnh truyền nhiễm, cứ như cảm cúm hay dịch tả. Do vậy, nhiều bộ lạc ở châu Uùc không muốn dây dưa tang lễ, vì e rằng để lâu mang họa. Thành thử, tang lễ trở thành chuyện bất khả kháng, " hết xôi rồi việc". Bộ lạc Ironama ở Bolivie còn kinh hơn: dân bản thấy có người đang hấp hối, bèn xô lại, bịt mồm bịt mũi để "người ấy không kịp bắt ai đem theo". Lắm lời trăn trối đã bị đè bẹp ngay lúc ấy! Bộ lạc Paduang cuả Miến Điện thì không bao giờ để ai đi đâu một mình. Con gái ra sông gánh nước không thể đi đơn về lẻ, và đàn ông đi cấy cũng họp thành đoàn. Trẻ con chăn bò cũng phải từ một tiểu đội trở lên, vì " đi một mình dễ bị người khuất mặt khuất mày rủ rê" Trong làng , nếu lâu quá không có ai chết, thì cả già trẻ đều lo sợ, chứ không vui tí nào. Bởi lẽ, chờ mãi mà không có bạn, người chết sẽ trở về , chèo kéo ai đó để bớt cô đơn! Một số sắc dân còn cho rằng kéo dài tang lễ chỉ thêm phiền lụy, nên họ chôn cất vội vàng, thậm chí chuẩn bị tang lễ từ trước mấy tháng. Nghững gia đình lo xa còn làm sẵn áo quan cho các cụ trước cả năm trời. Một số buôn- bản còn cắt cả bộ phận sinh dục của người chết, vì sợ giao hoan giữa âm và dương sẽ mang vạ cho cả làng. Nỗi sợ" liêu trai dị chí" ám ảnh cả làng. Ở lắm nơi, tử thi không được nằm ngữa thoái mái, mà bị lật sấp, tứ chi bị trói chặt để" không vùng vẩy trở về được". Thế mà cả làng vẫn chưa yên tâm. Nửa đêm họ cử những chàng trai gan lì nhât, rón rén ra mộ, xem có vết chân không! Một số bộ lạc ở châu Phi - trước khi liệm xác, đã lấy gậy dần cho nhừ ra, để tử thi mất hết sức, không hại ai được.
Bên cạnh lòng tin" người chết quay về" là chuyện linh hồn tìm nơi ngụ mới. Đó có thể là cây cỏ, sỏi đá và thú vật. Tất nhiên khi đã tin thế, không ai dám đụng vào những thứ này. Ở Nam Mỹ, một số sắc dân lại nghĩ rằng linh hồn không đi đâu cả , chỉ quanh quẩn trong huyệt. Phương Đông rất kỵ việc quật mồ hay động mả . Chẳng đặng đừng, thì phải coi ngày giờ kỹ lắm. Châu Mỹ ngược lại. Lâu lâu người sống lại vác cuốc đào mồ, lôi xương sọ ra , khóc gào thảm thiết, như chứng tỏ rằng" kẻ ở người đi" là đau lắm. Xương là linh vật, nên được "tận dụng" trong cuộc sống. Xương ống quyển bỏ vào túi cung tên là mong ước có đôi chân dẻo dai, guồng khắp hoang mạc và rừng sâu. Xương sọ thờ trong nhà là óc thông minh cho người sống, và xương tay là sự khéo léo sinh lợi. Trong khi đó, người Ouganda cho rằng " không có gì tệ hại hơn là làm thất lạc xương, vì người chết không tài nào sống yên ổ dưới ấy, khi thiếu một tay hay một chân". Vì lẽ ấy, khi còn sống, dù bị tai nạn và có lời khuyên của bác sĩ, người ta nhất định không chịu cưa chân cưa tay, dù vết thương rất nặng! Người Batou lại có lòng tin oái oăm : khi anh trai chết , thì em trai phải lấy chị dâu ngay để linh hồn người anh mau siêu thoát, đừng bị" thê tróc tử phọc" dài hạn! Thế là hai chị em bạn dâu lại rơi vào cái cảnh" người đắp chăn bông kẻ lạnh lùng". Kỳ cục hơn, nếu cậu ấm qua đời mà chưa có vợ ( vì kén hay nhỏ quá) , thì ông ông bố phải lấy vợ thay con! . Nguyên tắc chung là " không để người chết ấm ức điều gì, nhất là đối với người chết trẻ, chưa kịp nếm mùi đời. Đơn giản vì bị ấm ức mãi, người chết sẽ " tức nước vỡ bờ", quay sang hành hạ cả nhà! Quái đản hơn, có những gia đình sẽ làm suôi với nhau, khi hai bên có đủ đôi vừa chết. Oâng A có con trai tắt nghỉ, ông B có con gái về trời? Hai bên sẽ " sơ vấn chạm ngõ, ngày lành tháng tốt" như thường. Chỉ có điều, đám cưới thiếu hai nhân vật chính!
   Mộ phần cổ nhân được con cháu khai quật rất nhiều, và chúng đã giúp ích nhiết cho khoa học. Mộ phần cổ nhất được tìm thấy có tuổi tám vạn năm. Tìm hiểu, mới thấy lòng thành của người sống đối với người chết. Mộ phần được đặt trong những nơi tối linh, trang hoàng đặc biệt, bảo vệ kỹ càng. Một bộ xương tìm thấy ở Shanidar ( Irak) đã nói lên nhiều điều. Nhà khảo cổ học Arlette Leroigoirhan cho biết: " Có phấn hoa cánh hồng trong mộ". Xác nằm trên giường trải lụa bạch, cách đây năm vạn năm. Ngoài ra còn vô số phần mộ  và hài cốt quí được phát hiệnở Téniec và Hoediec ( Bretagne), Muge ( Bồ Đào Nha), Vedback ( Đan Mạch), Mallaka ( Israel) …
  Đông phương vẫn tin rằng " sinh ký tử quy". Với dân Toradja của Nam Dương, thì người chết sẽ tạm về cõi Puya tương tự a tỳ - và chuẩn bị về trời, trú ngụ vĩnh viễn trên ấy. Họ tin rằng " ông già bà cả vẫn ngồi vắt vẻo trên ngọn dừa, chờ hôm cả gió để lên trời". Vì thế chả ai dám leo dừa lấy trái, mà thường bắc thang cúng vái hẳn hòi. Họ rất sợ cảnh" bất đắc kỳ tử " , vì không chuẩn bị kịp tang lễ là trọng tội. Do đó, nhà nào cũng chứa sẳn " dụng cụ cần thiết". Nhà nhân chủng học Jeannine Koubi đã nói : " Theo họ, ranh giới giữa cái sống và cái chết là rất mỏng , chỉ là tạm bợ. Phải xem người chết như người bệnh hay người đang ngủ". Trước công nguyên 3000 năm, người Toradja đã định cư ở đảo Sulawesi , và tin rằng linh hồn người chết sẽ tìm được " vài vùng hạnh phúc nữa như Sulawesi" . Một thời gian sau, đạo Hồi và đạo Thiên Chúa giáo du nhập vào đảo, biến đổi dần quan niệm về chuyện du hành sau cái chết.
   Một số bộ tộc ở Nam Thái Bình Dương lại cho rằng cây lúa và tang ma là hai khắc tinh. Cụ thể, những gia đình có tang không được đi gặt, vì lúa là sản phẩm thiêng liêng, tinh khiết của vũ trụ . Đang gặt, mà thoáng thấy đám ma đi qua, phải bảo nhau ngừng ngay, lánh mặt, vì sợ lúa bị thối. Đó là kết luận chắc chắn của hai nhà nghiên cứu F Brisborg và F Douvier . Con trâu không bao giờ chịu cảnh kéo cày, vì Thượng Đế tạo ra nó để cúng hồn người chết. Nếu cúng tế bằng con gì khác, thì mọi tai vạ liệu mà gánh lấy; cũng như bắt trâu kéo cày thì cả làng phải chịu trách nhiệm! Nhiều nơi lại có tục sau: Có người vừa nằm xuống, cả họ vội vã giết thật nhiều gia súc - càng nhiều càng tốt - để người chết đừng phải " lạy ông đi qua ,lạy bà đi lại" dưới ấy! Có khi cả nhà nhân chủng học châu Aâu đã chứng kiến cảnh mổ trâu mổ heo vĩ đại trong một đám tang lễ : khoảng 300 con bị giết! Cái lạ là: trên đường khiêng áo quan về " nhà thiêng" các phu đòn cứ việc cười nói thỏa thích. Dòng họ người chết cũng xem tang lễ là dịp chạm ly chạm bát, không ai đau đớn làm gì, vì " chết là được về cõi khác sung sướng gấp vạn lần dương thế".
  Ở Mexico, mọi việc lại khác hẳn. Nếu du khách đến đây, đừng ngạc nhiên khichợt thấy một hôm, nhiều cửa tiệm bày hàng tá sọ người bằng kem và chocolat. Đó là ngày hội người chết, có từ lâu đời. Ngày 1/11 hàng năm, dân Mexico lại tổ chức lễ này, báo hiệu bằng những bộ xương sặc sỡ, treo lềnh kềnh trong các cửa tiệm. Hàng đoàn người khác những vòng hoa xempazuchise ( hoa dành riêng cho người chết) , đến các nghĩa trang biến bia mộ thành bàn tiệc với đủ thứ đồ ăn thức uống. Người Mexico tin rằng chết là lấy máu nuôi thần thánh, vì vậy , đó là nhiệm vụ vinh quang. Ba sắc dân ăn uống "nhiệt tình " là Totonaque, Nahua và Otomi. Người ta ngồi cạnh mộ phần thân nhân , thì thầm kể lại mọi chuyện xảy ra trong năm , như tâm sự với " kẻ đi xa mới về", sau đó là từ biệt, hẹn gặp lại năm sau! Trong các bài đồng dao của trẻ em Mexico, có câu" Hãy xin Thượng Đế cái chết, vì chết là sướng, sống mới khổ!" Khắp đường phố , nhiều biểu ngữ phấp phới : Đừng sợ chết. Rồi cũng đến ngày ta phải chết. Những ai giàu có, thì đem theo những phương tiện hàng mã, đốt liên tục không khác gì " thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay" của phương Đông. Những gia đình có con chết trẻ, ban đầu than khóc vật vã, về sau tự an ủi rằng" nữa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương" chẳng qua là mau đến cõi cực lạc.
    Chết cũng rắc rối như thế, chứ không " đại đồng" như bao người lầm tưởng. Nếu mai nầy, có dịp du lịch đến các quốc gia, xin bạn cẩn thận. Nhập gia tùy tục mà. Thấy mọi người đang gào lên, bứt đầu bứt tóc, bạn hãy làm theo, và chuẩn bị tinh thần ngay, vì rất có thể , chỉ năm phút sau, thiên hạ đã "chén chú chén anh" được rồi. Khi đó, nếu bạn vẫn lăn ra tru tréo, thì không ai bảo đảm tính mạng cho bạn!.

            DUY VĂN
- Theo Science Illustree.
- AtlasHistoire
- Sélection và EDJ

BA CON RẬN KIỆN NHAU

Một buổi chiều cuối tuần nọ,tại San hô thành .Bốn anh bạn già họ Lý,đó là Lý Công , Lý Cưỡng ,Lý Cò và Lý Cu. Họ cùng rũ nhau ra hóng mát trong khuôn viên Vườn Nhật .Dưới không khí êm ả cuả chiều Thu, Lý Công người nhỏ nhắn nhất trong bọn ,nhưng cũng là người am hiểu thời cuộc nhất trong nhóm .
Trong lúc, vừa thưởng thức những làn gió nhè nhẹ thổi qua những làn da đã lốm đốm đồi mồi. Lý Công đưa tay phải vuốt nhẹ lại mái tóc muối tiêu, đã hằng nhuốm bụi phong trần từ khi còn ở quê nhà,tay trái lấy từ trong chiếc tuí xách một cái radio nhỏ, mắt lò dò tìm các băng tần tiếng Việt .Ông xoay qua xoay lại cái nút vặn đài mấy vòn g mà không tìm ra.Trong lúc ông đang cố tìm cho được làn sóng tiếng Việt mến yêu, Lý Cò ở bên cạnh vội “chộp”lấy cái radio và nói: “Thôi đi ông Công ơi! tìm làm chi cho mất công .Sáng ngày mai tìm báo mà đọc ,nếu có tin tức thì giống y chang vậy chứ gì!” “Ờ tuị tui nghe người ta nói ngoài cái tên cúng cơm là Lý Công, anh còn có một cái tên khác là “Năm thời cuộc”nữa phải không? Bộ anh hay theo dõi thời sự lắm hả?. Lý Cưỡng nhanh miệng nhảy vào: “Cha này mà thời cuộc cái nổi gì!, lý sự cho có.Hễ “thằng giả”û mà gặp đàn bà goá,thì người cuả “thằng giả”û chẵng khác nào cục nam châm ấy vậy!.Lúc còn ở quê nhà ,có một lần tui với “thằng giả”ûđi ra bến xe Bạc liêu đón anh Cóp lên nhà làm đám giổ cho ông Cả Một .Trong û lúc chờ đợi xe anh Cóp đến , “thằng giả” vào cái quán gần đó để giải khát.Vài ba câu chuyện đầu tay,thằng giả nghe đâu lóm phóm cái con “mẹ”chủ quán chồng ả mới vừa đi theo tiếng gọi cuả Diêm Vương ,thằng giả sáp tới liền ,và nổ liền tay,làm tui xém bị thương vì miểng văng.Mãi mê với sách “thầy”dạy ,quên mất đi việc đón anh Cóp.Khi về đến nhà bà CảMột “quất”cho một trận tơi bời.Từ dạo qua Mỹ đến nay có phần bớt đó chứ!”. Lý Cu tiếp lời : “Bớt cái con “mẹt”tui.Mới bửa hổm đây này, thằng giả rề rề lại con “mẹ” Mễ ở đầu đường định thả “thầy ra”,không dè con mụ Mễ này nó biết chút đĩnh tiếng An Nam nó duã cho một trận te tua như “tào chuối rách”,vác xác chạy thụt mạng về nhà ,mấy tháng nay dưỡng quân trong “hậu cứ”chờ cơ hội đó chứ!.Dạo này đi đâu cũng kè kè cái radio bên mình .”
Lý Công: “Vừa vừa thôi các cha, nãy giờ tui nhịn nhiều lắm rồi đó!.Các cha ăn rồi cứ bàn chuyện người khác thôi!”. Lý Cò mổ phóc vào: “Thời sự mà anh Công,thời sự mà không nghe ,không bàn tán thì còn gì là thời sự?” “À mà anh Công anh đã từng được người ta phong cho cái chức “năm thời cuộc”vậy anh có biết gì về những chuyện ở San hô thành gần đây không hà?.Lý Công tự đắc trã lời: “Một bụng đây nè không biết còn ai biết!”.Lý Cu hỏi: “Anh biết cái gì nào?”.LýCông: “Những tháng gần đây tình hình thế giới rất là căng thẳng,chiến tranh Iraq vừa chấm dứt thì lại đến Iran và Bắc Hàn thủ đắc vũ khí nguyên tử để chơi trội với các nước láng giềng.,Hiện giờ thì quân Liên Hiệp Quốc đã đến đó ,nhưng vẫn chưa đem lại sự hoà bình.Đó là hai điểm nóng đã ít nhiều làm thiệt hại vật chất cũng như sinh mạng con người. Và mới đây các nhà quân phiệt bắn xối xả vào các nhà sư biểu tình làm chết mấy người . À còn một trận chiến nữa mà Lý Công tôi muốn nói đến với các “cha”nó cũng không kém phần quan trọng ,đó là trận chiến ở San hô thành”. Lý Cưỡng thắc mắc định cải: “Anh Công anh nói sai rồi, làm gì có  trận chiến ở San hô thành?”.Lý Công : “Thì ra các ông không phải là nhà thời cuộc là phải,và các ông cũng không hiểu gì về chiến tranh cả .Mấy ông nghe Công tui giải thích này.Chiến tranh có nhiều dạng, dạng dùng súng đạn đánh nhau ngoài chiến trận ,như trước năm 1975 tuị mình đã đánh Việt cộng vậy.Trận chiến mà tôi nói ở San hô thành này là “trận khẩu chiến” hay nói văn hoa hơn là “diễn đàn chiến”. Có một số người còn cho đó là “ ganh tị chiến”, vì họ nói từ chổ ganh ghét nhau về “ tính show up” nên choảng lẫn nhau nên làm rùm beng lên. Lý Cò chen vào hỏi: Mà ai ganh tị ai hả anh Lý Công? Trời ơi cái thằng cha Lý Cò này thật là lạc hậu! Ở cái xứ này mà cha chẳng biết ất giáp gì hết trọ hà! Hãy vãnh lỗ tai nghe Lý Công này vào đề thời sự nóng nhé !  Số là vào đầu tháng 9 dương lịch vừa qua nhóm Văn Đàn Đồng Tâm ở bên xứ Cao Bồi qua vùng Thung Lũng Hoa Vàng của mình đây để giới thiệu quyển Đặc San Đồng Tâm 5. Sở dĩ họ đến đây ra mắt là vì ở xứ San hô dê thành của mình cũng có một số “ đại thi sĩ và văn sĩ” góp mặt trong tờ Đặc san đó. Và nghe đâu ngoài những “đại thi sĩ văn sĩ đực rựa” còn có hai nữ hồng quần một trẻ một già. Cái “ghệ”ï trẻ “Biên Lít”   này nghe đâu nhiều chức danh lắm. Nhóm không ưa cái “ghệï” trẻ này thì cho rằng cô ta dùng tiền để mua danh mua phẩm. Nhóm ưa cô ghệï trẻ này thì cho rằng: “ Cô ấy dùng tiền mua danh, nhưng cố có tấm lòng nhân đạo giúp cộng đồng và những người neo đơn” . Lý Cò lên tiếng hỏi Lý Công . Theo anh thì việc làm của cô ghệ trẻ này có đáng ca ngợi không? Chứ tui thì tán thành rồi đấy  anh Công à! Lý Công tiếp lời Lý Cò, Công này cũng vậy thôi! Cô  dùng tiền mua danh đi nữa , cô ấy vẫn còn có tấm lòng với đồng hương. Chú mày coi đó. Không có một đoàn thể nào mà cô ghệ trẻ này không ít nhiều giúp tiền bảo trợ cho, kể cả việc nhỏ nhặt nhất là ra mắt sách. 
Còn bà ghệ già “Ngạc Ông” thì sao? Lý Cò hỏi. Lý Công nói : Bà ghệ già hả! Bả có giúp cho ai đâu, bản thân của bả nghèo rớt mồng tơi làm gì có tiền mà giúp. Đã không giúp được ai, ấy vậy mà còn ghanh ghét người khác, nói hành nói tỏi người khác, đi đến đâu đều gây gỗ, nói xấu kẻ khác. Bà ấy đi đâu cũng vác cái mặt vênh váo như  ta đây là đại thi sĩ tầm cỡ ngang với đại thi hào Nguyễn Du vậy. Ai ở xứ San Hô Dê này mà không biết mặt của bà. Bà luôn sống trên ảo tưởng và luôn nói dối để kiếm danh lợi riêng tư cho bà. Chú mầy có đọc thơ văn của bả chưa. Nếu chưa chú mày hãy tìm đọc sẽ thấy cái cách làm thơ của bà “ đại thi sĩ” này liền hà! Đó là tui nói với chú mày về việc thơ của bả.  Có lần bả huênh hoang chê thơ của cụ Hà Thượng Nhân  là bậc tiền  bối trong thơ nghiệp mà hầu hết ai ai cũng đều trọng nể cụ . Bà nói  cụ Hà chỉ có tiếng hồi xưa  chứ bây giờ làm thơ có hay ho cái gì mà phải trọng nể.  Vậy mà có thằng cha nhà báo nào đó  thằng giả viết bài nhận định về thơ của con mẻ , bốc con mẻ lên mây xanh  cùng với mấy lão già sắp xuống lỗ ở phương trời góc biển nào đâu ấy  cũng khen tới tấp nên bả nghĩ là thơ của bả lên tới đỉnh trời rồi. Thế nên bả mới chuyển sang làm văn . Chú mày có biết không một nhà văn lão thành ở San  Hô Thành này  thường được mời nói về tác phẩm cho các buổi ra mắt sách  một bửa nọ đọc tác phẩm của bà viết  trong quyển tuyển tập nào đó Lý Công Tui hổng có nhớ rõ. Ông nhà văn này có đưa cho Công này bài viết của bà Công tui  đọc thấy mà phát cười cho cái dốt nát về cách dùng từ của bà . Nôi dung của cốt chuyện bả kể về cuộc sống tráo trở gian ác của con người   và vì chỗ gian ác tráo trở đó nên ông trời cảnh cáo con người.  Bà viết như thế này: “ Cuộc đời là những đổi thay, tráo trở nào ai biết được nên ông Trời đã đặt cho nhân loại một danh từ kép” Nhân Gian” để cảnh cáo loài người nhưng chẳng ai biết sợ cứ thản nhiên hành động bất nhân gian để rồi  lãnh hậu quả tức thì….”  Lý Cò chú mày thấy đó! Bả có biết  dùng từ ngữ  gì đâu cho hợp với ý nghĩa của nội dung bả viết. Chú mầy thấy không bả dùng từ sai bét ráo trọi, thay gì chỗ đó người ta phải dùng là “ gian ác” chứ sao dùng là “ Nhân Gian”. Thật hết thuốc chửa . Vậy mà có một nhà văn “ trùng tên với đứa con gái  con ba vợ nhỏ của ông cò Quận 9” ( trong tuồng cải lương ông cò Quận  của Hà Triều Hoa Phượng)   ở bên Tây hay Tàu gì đó khen văn của bà ngang hàng với nhà hai nhà văn lớn  có chân trong Tự Lực Văn Đoàn là Nguyễn Thụy Vũ và Nguyễn Thị Vinh (sic) . Thật buồn cười . Chú mày có biết không! Sao vụ ông nhà văn lão thành lên tiếng về việc bà viết văn dùng sai từ ngữ thì bà phản pháo ông nhà văn này liền. Bà tuyên truyền khắp với mọi người : vì lão nhà văn này dê bả, bả hổng chịu nên bịa chuyện nói xấu bả. Chú mày có thấy cái lưỡi của con mẹ này ghê gớm không? Chuyện trắng nói đen vàchuyện đen đổi thành trắng dễ dàng. Vậy mà nhiều tay già ở xứ  San Hô Dê này cũng nghe đấy  chứ! Già lú lẩn nghe theo lời đường mật thì không đáng trách lắm!  Thật đáng trách là thằng nhà báo nào đó nó ăn thứ gì mà ngu muội để bả dụ khị và cứ sa vào lưới nhện của bả mới thật là khốn nạn chứ! 
Không biết Lý Cưỡng, Lý Cu và chú mày biết không chứ tao mới vừa nghe , và đọc thấy trên  diễn đàn điện tử thấy tên Việt Hải Nào đó phản kháng chửi bả quá trời  vì bả vu khống tên này làm văn học ăn tiền. Tên này tức làm cho bả một phát rât nặng . Tên này moi ra cái vụ bà ta muốn dành  chức “ Văn Đàn Trưởng “ của Đặc  San Đồng Tâm Bắc Cali  nên mới nói xấu đời tư của con ghệ trẻ BL cho hai tên lãnh đạo Đồng Tâm biết . Mong hai tên này  rút lại quyết định cử con ghệ trẻ làm Văn Đàn Trưởng  mà trao chức này cho bà ta . Nhưng hai tên này đâu có nghe lời du khống của bà mới phóng lên internet chơi bà tới bến , bà bị ê mặt  mà lại còn bị con ghệ trẻ BL thưa ra tòa . Nghe đâu tên Việt Hải cũng sắp sửa đưa bả ra tòa nữa vì tội mạ lị ông ta.
Lý Cưỡng hỏi: Bộ Văn Đàn Đồng Tâm nổi tiếng và ghê gớm lắm sao mà bả tranh giành ?  Lý Công nói: Có cái quái gì đâu mà tiếng tăm. Mỗi năm chỉ ra một lần  quyển Đặc San chứ phải là một tờ báo đâu mà lại tranh giành quyền chức. Chỉ có hạng người như bả thuộc loại hám danh , hám lợi mới tranh giành như vậy chứ ai ai có trí óc và có tài năng mà làm như thế.
Trước đây bả đã bị nhiều người đánh trên diễn đàn vì tính “hách xì xằng” của bả . Bả dựa vào người khác để làm cho nổi tiếng nổi tăm. Có người cho rằng bả là “ con ếch  mà muốn thành con bò” . Câu này ý họ muốn nói bả không có tài cán gì ráo trọi, và lại nữa trình độ học vấn quá thấp mà lại muốn làm “ mẫu nghi” thiên hạ nên người ta muốn giáo dục bả để bả trở thành người tốt . Nhưng bả không bao giờ biết lẽ phải là gì . Nên họ dần dần tránh xa bả. Chỉ có thằng nhà báo lọt tròng té nổ nào đó  nó đui nó mới không thấy cái thủ đọan và cái nết xấu xa  của con mẻ nó mới ủng hộ con mẻ để con mẻ ưởng mặt với đời.
Lý Cu hỏi. Theo anh Lý Công thì vụ kiện của con ghệ trẻ BL kiện bả có kết quả không?
Lý Công: Hẳn nhiên là có . Nói xấu đời tư của một người  là không được , vì  luật định . Hậu quả sẽ bị phạt tiền tùy theo mức án, nếu không bị phạt tiền hiệu quả nhỏ nhất là tòa buộc phải xin lỗi kẻ mình nói xấu và trang trải chi phí các án phí. Nhưng cái điều đó cũng không quan trọng bằng xúc phạm đến dân tộc tính . Những người ngoại quốc họ biết chút  ít về ngôn ngữ Việt, thì họ sẽ nghĩ gì về “tính dân tộc”cuả ta?.. Lý Cưỡng hỏi : 
Lý Công nói: Người ngọai quốc sẽ nghĩ xấu về tính dân tộc và cho rằng người Việt chưa đạt đến trình độ văn minh. Thích hay nói bèm kẻ khác vì không hiểu về luật pháp. Bất đắc dĩ lắm mới kiện tụng. Nhưng các ông thấy không, người Việt của mình thường hay bị kiện tụng nhau hoài bởi vì trình độ luật pháp còn kém cõi. Kiện tụng  thì giữa nguyên đơn và bị cáo cũng không có lợi gì  mà người hưởng thụ là luật sư và các nhà làm luật. Tuy nhiên vì không thể hòa giải nên cũng có sự kiện tụng để biết rõ trắng đen. Các ông còn nhớ cái câu chuyện “BA CON RẬN ĐI KIỆN” KHÔNG?.Nếu các ông không nhớ tui kể cho mà nghe.Câu chuyện được Hàn Phi Tử viết như vầy: “Ba con rận cùng hút máu một con lợn,tranh nhau ăn,đem nhau đi kiện.Một con rận khác gặp hỏi:
-Ba anh kiện nhau việc gì thế?
-Ba con rận đáp:Chúng tôi kiện nhau vì tranh nhau một chổ đất màu mở.
-Con rận kia mới nói:Tôi tưởng các anh chẵng nên tranh lẫn nhau thế làm gì.Các anh chỉ nên lo đến con dao của người đồ tể giết lợn ,ngọn lữacuả bó rơm thui lợn mà thôi. Ba con rận nghe ra,biết là sự dại nên không đi kiện nữa,cùng nhau quần tụ ,làm ăn với nhau,dù no ,dù đói,cũng không bỏ nhau.Con lợn thành ra mỗi ngày một gầy, người ta không làm thịt cứ để nuôi ba con rận,nhờ thế mà no đủ mãi.
Sau khi kể xong ,Lý Công bèn hỏi “Có phải người cùng một xứ mà tranh giành lẫn nhau cái lợi trước mắt, không nghĩ gì cái việc lâu dài cho toàn thể ,thì trí khi thật không bằng mấy con rận nói trong truyện này.Tranh cải nhau, đánh nhau ,kiện nhau ,thì oan oan tương kết, lợi chẵng thấy đâu,chỉ thấy hại,cho một mình và lại hại cho cả đàn,cả lũ nữa.Sao không biết:Sâu đục cây ,cây đổ thì sâu cũng chẵng còn:Trùng hại vật,vật chết thì trùng cũng hết kiếp.
Trong trường hợp bà ghệ già quá hỗn láo cô ghệ trẻ chịu hết nổi thì có thể có kiện tụng , nhưng theo Lý Công thì người đồng hương, cùng chung một hoàn cảnh sống tạm dung trên xứ xở của người,không biết đoàn kết thương yêu nhau , giành giựt nhau từng những quyền lợi nhỏ, để cho kẻ thù mượn dao “đồ tể”tiêu diệt thì thật ư là không ngu muội lắm sao?”
Các ông có đồng ý với Lý côngnày không nào?.

KIẾN NÂU